<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>HOW-TO &#187; Hardware</title>
	<atom:link href="http://thuthuat.cpu.vn/category/hardware/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://thuthuat.cpu.vn</link>
	<description>Tips, Trick, How to use computer</description>
	<lastBuildDate>Sat, 23 Jan 2010 16:07:20 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.9.1</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Tạo phân vùng bảo mật dữ liệu trên USB</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2010/01/23/t%e1%ba%a1o-phan-vung-b%e1%ba%a3o-m%e1%ba%adt-d%e1%bb%af-li%e1%bb%87u-tren-usb/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2010/01/23/t%e1%ba%a1o-phan-vung-b%e1%ba%a3o-m%e1%ba%adt-d%e1%bb%af-li%e1%bb%87u-tren-usb/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 23 Jan 2010 16:07:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[USB]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1909</guid>
		<description><![CDATA[
Đánh rơi hay bỏ quên USB là tình huống rất thường xảy  ra. Với những ai luôn xem trọng dữ liệu hơn cả ổ USB thì sử dụng một  hình thức bảo mật dữ liệu là việc không thừa. 
Chép dữ liệu quan trọng vào một phân vùng bảo mật  trên ổ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="divContent">
<p><strong><span style="color: #333333;">Đánh rơi hay bỏ quên USB là tình huống rất thường xảy  ra. Với những ai luôn xem trọng dữ liệu hơn cả ổ USB thì sử dụng một  hình thức bảo mật dữ liệu là việc không thừa. <span id="more-1909"></span></span></strong></p>
<p>Chép dữ liệu quan trọng vào một phân vùng bảo mật  trên ổ USB là giải pháp mà người viết sẽ đề cập trong bài này.</p>
<p>Phần mềm hỗ trợ tạo phân vùng bảo mật trên USB thì có  nhiều, song hầu hết đều thuộc dạng thương mại (shareware) như  Wondershare USB Drive Encryption, USB Stick Encryption, Master Voyager,  Evidence Crypt&#8230; Chúng áp dụng một quy tắc rất khó chịu: Khi hết giới  hạn dùng thử thì không cho mở phân vùng bảo mật đã tạo ra trên ổ USB,  đồng nghĩa dữ liệu từng chép vào phân vùng bảo mật sẽ “<em>an nghỉ</em>”  nếu bạn không bỏ tiền mua bản quyền. May thay, vẫn còn đó một phần mềm  miễn phí thuộc thể loại vừa nêu, đó là <strong>Rohos Mini Drive</strong>.</p>
<p>Phân vùng bảo mật do Rohos Mini Drive tạo ra sẽ lấy  dung lượng từ ổ USB được mã hóa an toàn với thuật toán AES256 và có thể  ẩn/hiện bất cứ lúc nào bạn thích. Điểm đáng nói: bạn có thể mở phân vùng  bảo mật trên USB trên những máy không cài Rohos Mini Drive để chép thêm  dữ liệu quan trọng vào.</p>
<p>Phiên bản mới nhất Rohos Mini Drive có dung lượng  2,52MB, tương thích với Windows 2000/XP/2003/Vista/2008/7, được cung cấp  <a href="http://download.com.vn/more+software+tools/8225_rohos-mini-drive-1-19.aspx?op=download" target="_blank">tại  đây</a>.</p>
<p>Đầu tiên, bạn kết nối ổ USB (còn trống tối thiểu  500MB) sẽ tạo phân vùng bảo mật với máy tính.</p>
<p>Tiếp đó khởi động Rohos Mini Drive. Trong giao diện  chính xuất hiện, bạn bấm nút<strong> Set USB Key</strong> để bắt đầu các  bước khởi tạo phân vùng bảo mật trên USB.</p>
<p><span style="color: #3366ff;"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/012010/20/RohosMiniDrive.jpg" alt="" /><br />
Giao diện chính của Rohos Mini Drive </span></p>
<p>Trong hộp thoại mở ra, sau khi điền mật khẩu cần có  để truy xuất phân vùng bảo mật vào hai khung <strong>Specify password to  access disk</strong> và <strong>Confirm password</strong>, bạn nhấp vào  liên kết<strong> Chang</strong>e bên phải mục <strong>Partition image  file</strong> để thiết lập những thông số liên quan đến phân vùng bảo  mật.</p>
<p><span style="color: #3366ff;"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/012010/20/RohosMiniDrive1.jpg" alt="" /><br />
Đặt mật khẩu mở phân vùng bảo mật </span></p>
<p>Trong hộp thoại <strong>Disk details</strong>, ngoài  thuật toán mã hóa <strong>AES256</strong> mặc định sẵn tại hộp <strong>Encrypt  algorithm</strong>, bạn có thể thay đổi các thông số: <strong>Disk  letter</strong> (ký tự cho phân vùng bảo mật lúc xuất hiện trong My  Computer), <strong>Disk Size</strong> (dung lượng lấy từ ổ USB để cấp  cho phân vùng bảo mật, tối đa là 2050MB, tương đương 2GB), <strong>File  system</strong> (hệ thống tập tin của phân vùng bảo mật: NTFS, FAT32 hay  FAT), nơi lưu file ảnh đĩa <strong>rdisk.rdi</strong> &#8211; chứa đựng thông  tin về tất cả dữ liệu chép vào phân vùng bảo mật (nên giữ nguyên như  mặc định). Xong, bạn bấm <strong>OK</strong> để trở lại hộp thoại <strong>Setup  USB</strong> Key.</p>
<p><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/012010/20/RohosMiniDrive2.jpg" alt="" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Thiết lập thông số tạo phân vùng bảo mật </span></p>
<p>Nếu muốn tạo shortcut truy cập nhanh phân vùng bảo  mật từ desktop, bạn giữ nguyên tùy chọn <strong>Make a shortcut to the  disk on your desktop</strong>, rồi bấm nút <strong>Create disk</strong> để tiến hành tạo phân vùng bảo mật trên USB. Ưu điểm của Rohos Mini  Drive so với phần mềm thương mại cùng chức năng là <strong>không xóa  những dữ liệu có sẵn trong USB</strong>.</p>
<p>Quá trình này nhanh hay chậm tùy thuộc cấu hình máy  cũng như dung lượng mà bạn cấp phát cho phân vùng bảo mật. Khi hộp thoại  với thông điệp <strong>Encrypted partition has been successfully  created</strong> hiện ra là hoàn tất, bạn bấm <strong>OK</strong> để xác  nhận.</p>
<p><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/012010/20/RohosMiniDrive3.jpg" alt="" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Một số lệnh liên quan đến phân vùng bảo mật </span></p>
<p>Trở lại giao diện chính của Rohos Mini Drive, bạn có  thể nhấp vào liên kết <strong>Browse</strong> phía trên để truy cập  nhanh phân vùng bảo mật (đang ở trạng thái hiện) trong cửa sổ <strong>Windows  Explorer</strong>. Liên kết <strong>Disconnect</strong> để ẩn phân vùng  bảo mật khỏi Windows Explorer (hoặc bấm phải chuột vào biểu tượng Rohos  Mini Drive trên khay hệ thống và chọn <strong>Disconnect</strong>).</p>
<p>Trong phân vùng bảo mật này có sẵn bốn thư mục <strong>Autorun</strong>,  <strong>Documents</strong>, <strong>Program Files</strong>, <strong>Shortcuts</strong> để bạn chép những thư mục/file quan trọng từ nơi khác vào đây hoặc chép  vào thư mục gốc của phân vùng bảo mật đều được.</p>
<p>Nhấp vào liên kết <strong>Tools</strong> trên giao  diện Rohos Mini Drive, menu xổ ra gồm ba lệnh đáng chú ý: <strong>Delete  disk</strong> (xóa phân vùng bảo mật khỏi ổ USB), <strong>Change  password</strong> (thay đổi mật khẩu truy xuất phân vùng bảo mật), <strong>Create  password reset file</strong> (sao lưu mật khẩu mở phân vùng bảo mật vào  file rdisk.rdx, phòng hờ trường hợp quên mật khẩu).</p>
<p><em>* Trên máy tính cài Rohos Mini Drive, sau này bạn  có thể mở lại phân vùng bảo mật trên USB để chép thêm dữ liệu quan  trọng vào, bằng một trong bốn cách: </em></p>
<p>1. Từ giao diện chính của Rohos Mini Drive, bạn nhấp  vào liên kết <strong>Connect disk</strong>.</p>
<p>2. Nhấp đôi vào <strong>shortcut Rohos &#8211; rdisk.rdi</strong> tạo ra trên desktop trước đó (nếu có).</p>
<p>3. Bấm phải chuột vào biểu tượng Rohos Mini Drive  trên khay hệ thống và chọn lệnh<strong> Connect Disk</strong>.</p>
<p>4. Vào ổ USB rồi bấm đôi vào file Rohos<strong> mini.exe</strong>.</p>
<p>Ở hộp thoại hiện ra kế đó, bạn điền chính xác mật  khẩu đã thiết lập lúc đầu vào khung <strong>Enter password to access  Rohos disk</strong>, rồi bấm nút <strong>OK</strong> để mở phân vùng bảo  mật trong Windows Explorer.</p>
<p><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/012010/20/RohosMiniDrive4.jpg" alt="" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Nhập mật khẩu mở phân vùng bảo mật </span></p>
<p><span style="color: #800000;"><em><span style="text-decoration: underline;"><strong>Lưu ý</strong></span></em>:  Khi mang ổ USB đến máy tính không cài Rohos Mini Drive, bạn chỉ có thể  truy xuất phân vùng bảo mật theo cách thứ tư. </span></p>
<p><span style="color: #800000;">- Hộp thoại hiện ra khi bạn  nhấp vào nút <strong>Options</strong> trên giao diện Rohos Mini Drive,  có hai tùy chọn đáng chú ý: <strong>Show Rohos icon near a dock</strong> (đặt biểu tượng Rohos Mini Drive thường trú trên khay), <strong>Disconnect  all when user logs off</strong> (tự động ẩn tất cả phân vùng bảo mật  khi đăng xuất khỏi Windows).</span></p>
</div>
<p><strong><em> Theo Tuổi trẻ</em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2010/01/23/t%e1%ba%a1o-phan-vung-b%e1%ba%a3o-m%e1%ba%adt-d%e1%bb%af-li%e1%bb%87u-tren-usb/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hướng dẫn nâng cấp BIOS</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2010/01/23/h%c6%b0%e1%bb%9bng-d%e1%ba%abn-nang-c%e1%ba%a5p-bios/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2010/01/23/h%c6%b0%e1%bb%9bng-d%e1%ba%abn-nang-c%e1%ba%a5p-bios/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 23 Jan 2010 15:55:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hardware]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1900</guid>
		<description><![CDATA[Nâng cấp BIOS cho  máy tính có thể giúp hệ  thống của bạn khởi động nhanh  hơn, khắc phục được một số vấn đề về  tương thích và cải thiện hiệu suất.
BIOS máy tính là phần mềm đầu tiên mà máy tính của  bạn sẽ load khi khởi động. Phần [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Nâng cấp BIOS cho  máy tính có thể giúp hệ  thống của bạn khởi động nhanh  hơn, khắc phục được một số vấn đề về  tương thích và cải thiện hiệu suất.<span id="more-1900"></span></strong></p>
<p>BIOS máy tính là phần mềm đầu tiên mà máy tính của  bạn sẽ load khi khởi động. Phần mềm này sẽ hỗ trợ hệ điều hành bằng cách  tìm tất cả các thành phần phần cứng của máy tính và cho hệ điều hành  biết rằng nó có thể sử dụng chúng hay không.</p>
<p>Cũng như bất cứ phần mềm nào, nhà sản xuất máy tính   và bo mạch chủ thường cập nhật một cách định kỳ BIOS để vá  các lỗ hổng  phát sinh, bổ sung thêm khả  năng tương thích với các thiết bị mới, cải  thiện các chức năng cache,  thực hiện một vài điều chỉnh phần cứng khác  để giảm  thời gian khởi động hay sửa  một số vấn đề có thể làm người  dùng cảm thấy khó chịu.  Các nâng cấp này thường được cung cấp trên các  site của nhà sản xuất. Tuy nhiên  nếu mắc một lỗi nào đó trong quá trình  nâng cấp thì  lỗi này rất có thể sẽ làm cho máy tính của  bạn sẽ không  thể khởi  động. Trong bài này chúng tôi sẽ hướng dẫn cách nâng cấp BIOS  chắc  chắn thành công.</p>
<p><span style="color: #0000ff;"><strong>Bước 1: Xác định  phiên  bản BIOS hiện hành của bạn</strong></span></p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/012010/23/bios1.jpg" border="0" alt="" /></div>
<p>Cách dễ dàng nhất để tìm phiên bản BIOS là mở ứng   dụng System Information trong Windows – chỉ cần đánh <strong>msinfo32</strong> vào thanh bar tìm kiếm (Windows 7/Vista) hoặc hộp Run (XP) và kích <em>System   Summary;</em><em> phiên bản </em>BIOS  của bạn lúc này sẽ được hiển  thị phía bên phải, dưới phần hiển thị tốc độ của  bộ vi xử lý. Ghi lại  số phiên bản của mình (và ngày xuất hiện sau  số phiên bản đó nếu có).</p>
<p><span style="color: #0000ff;"><strong>Bước 2: Kiểm tra  website của nhà sản xuất bo mạch  chủ</strong></span></p>
<p>Hầu hết các nhà sản xuất máy tính đều tiến hành  nâng  cấp BIOS dựa trên một dòng hoặc model nào đó, vì vậy hãy  truy cập vào  trang hỗ trợ của nhà sản xuất BIOS của bạn và kiểm tra trong danh  sách  của nó. Nếu bạn download và cài đặt một phần mềm BIOS cho  model khác  thì máy tính của bạn chắc chắn sẽ không thể làm việc (tuy nhiên hầu  hết  các bộ nâng cấp BIOS đều có khả năng thông minh để thông báo cho bạn  biết  rằng bạn đang cài đặt nó trên phần cứng không đúng).  Nếu có file  nâng cấp cho BIOS của mình trong danh sách, hãy tải  file nâng cấp về  máy, cùng với đó là bất cứ tài liệu nào đi kèm, vì các cảnh  báo và các  hướng dẫn cụ thể sẽ được để bên trong các tài liệu Read  Me.</p>
<p>Trong quá trình tìm kiếm các nâng  cấp BIOS từ  website của nhà sản xuất bo mạch chủ. Nếu  không nhớ được số model của  nhà sản xuất, khi đó bạn có thể tra cứu nó mà không  cần mở case bằng  cách download và chạy <a href="http://downloads.pcworld.com/pub/new/utilities/system_resources_tune_up_/cpuz_149.zip" target="_blank">CPU-Z</a>,   sau đó kích vào tab <em>Mainboard</em><em>.</em></p>
<p><span style="color: #0000ff;"><strong>Bước 3: Đọc tài liệu đi  kèm</strong></span></p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/012010/23/bios2.jpg" border="0" alt="" /></div>
<p>File nâng cấp BIOS có  thể gồm một danh sách các bản   vá và các chức năng mới, thường để hỗ trợ cho phần cứng mới. Ví dụ như  khi  chúng tôi thực hiện nâng cấp BIOS cho máy tính Lenovo  Thinkpad  T500 của mình, phần mềm nâng cấp hỗ trợ cho adapter AC mới và độ phân   giải màn hình 1600&#215;900-pixel trên màn hình ngoài; nâng cấp này  cũng  khắc phục được các vấn đề về tốc độ quạt và Webcam, đây là những vấn đề  mà  không thể khắc  phục bằng cách nâng cấp Windows.</p>
<p>Mặc dù vậy, quan  trọng hơn là các lưu ý trong file  Read Me: Nếu bạn đang sử  dụng Vista trên máy tính T500 như thử nghiệm  của chúng tôi, thì bạn cần bảo đảm  rằng mình đã cài đặt một bản vá nào  đó; và nếu T500 có card  đồ họa khác thì bạn sẽ cần  nâng cấp driver cho  nó trên phiên bản này trước khi nâng cấp  BIOS. Hãy đọc tài liệu kỹ   bằng không rất có thể bạn sẽ làm máy tính của mình không thể khởi động  mà không  biết tại sao.</p>
<p><span style="color: #0000ff;"><strong>Bước 4: Nâng cấp BIOS</strong></span></p>
<p>Hầu hết các máy tính mới đều có một thủ tục nâng  cấp  BIOS một cách dễ dàng: Chỉ cần download file .exe  từ website của nhà  sản xuất, thoát tất cả các chương trình, chạy .exe, và nó sẽ  tự làm các  công việc cho bạn; sau đó khởi động lại.  Nếu máy tính của bạn đột  nhiên tắt trong quá trình nâng cấp BIOS, bạn sẽ không  thể khởi động, vì  vậy cần bảo đảm rằng bạn không để hết pin của laptop.</p>
<p>Mặc dù vậy các máy tính cũ có thể yêu cầu bạn thiết   lập một đĩa khởi động để nâng cấp cho BIOS. Bạn có thể  download một ứng  dụng dùng để cấu hình cho USB,  CD/DVD trắng, thậm chí một đĩa mềm để  thực  hiện điều này, hoặc một  file ISO image được sử dụng trong  ứng  dụng burn đĩa (nếu bạn chưa có  ứng dụng nào, hãy thử với <a href="http://isorecorder.alexfeinman.com/v2.htm" target="_blank">ISO   Recorder cho Windows XP</a> và phiên bản cho <a href="http://isorecorder.alexfeinman.com/W7.htm" target="_blank">Windows 7/Vista</a>) để   tạo một CD nâng cấp BIOS.</p>
<p>Các hệ thống khác sẽ bắt bạn copy một vài file vào   đĩa khởi động, restart và mở BIOS trong quá trình startup  (thường là  nhấn một phím nào đó cho các tùy chọn cài đặt) và thay đổi thứ tự  khởi  động để hệ thống tìm thiết bị khởi động trước khi load hệ điều hành từ ổ   cứng.</p>
<p><strong>Theo Quantrimang</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2010/01/23/h%c6%b0%e1%bb%9bng-d%e1%ba%abn-nang-c%e1%ba%a5p-bios/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Can You Run It &#8211; Kiểm tra khả năng tương thích của Game và PC của bạn</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2009/09/03/can-you-run-it-ki%e1%bb%83m-tra-kh%e1%ba%a3-nang-t%c6%b0%c6%a1ng-thich-c%e1%bb%a7a-game-va-pc-c%e1%bb%a7a-b%e1%ba%a1n/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2009/09/03/can-you-run-it-ki%e1%bb%83m-tra-kh%e1%ba%a3-nang-t%c6%b0%c6%a1ng-thich-c%e1%bb%a7a-game-va-pc-c%e1%bb%a7a-b%e1%ba%a1n/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 03 Sep 2009 10:05:12 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hardware]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1731</guid>
		<description><![CDATA[
Cấu hình máy tính của bạn thuộc dạng “thường thường bậc trung” và bạn muốn biết liệu với cấu hình như vậy thì máy tính của bạn có khả năng chơi được những game gì? Câu trả lời của bạn sẽ được tìm thấy tại dịch vụ kiểm tra trực tuyến Can You Run It.


Đây [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class="ttvtIntro">
<p>Cấu hình máy tính của bạn thuộc dạng “thường thường bậc trung” và bạn muốn biết liệu với cấu hình như vậy thì máy tính của bạn có khả năng chơi được những game gì? Câu trả lời của bạn sẽ được tìm thấy tại dịch vụ kiểm tra trực tuyến <a href="http://www.systemrequirementslab.com/referrer/srtest">Can You Run It</a>.<span id="more-1731"></span></p>
<div class="ttvtFigCenter"><a rel="lightbox" href="http://ms.thongtincongnghe.com/upload/large/0908/30/canyourunit.jpg"><img src="http://ms.thongtincongnghe.com/upload/med/0908/30/canyourunit.jpg" alt="" /></a></div>
</div>
<p>Đây là một dịch vụ web khá là độc đáo, bởi thông qua dịch vụ này bạn có thể Test hệ thống và kiểm tra xem liệu máy tính của bạn có khả năng chạy một chương trình game mà bạn yêu thích trong danh hay không. Dịch vụ này này sẽ tiến hành kiểm tra và so sánh cấu hình máy tính của bạn với game lựa chọn dựa trên cơ sở dữ liệu cập nhật về các trò chơi trong danh sách</p>
<p>Sử dụng dịch vụ này là vô cùng đơn giản:</p>
<blockquote><p>- Bạn chỉ cần truy cập địa chỉ <a href="http://www.systemrequirementslab.com/referrer/srl">http://www.systemrequirementslab.com/referrer/srl</a>, rồi bấm nút Can you run it để truy cập vào giao diện làm việc chính.<br />
- Trong khung số 1 Select a product from the drop-down list below bạn hãy kích chọn tên trò chơi mà bạn muốn kiểm tra với cấu hình máy tính của mình. Cuối cùng bấm nút Can you run it.</p>
<p>- Kết quả kiểm tra sẽ cho bạn biết liệu máy tính của bạn có thể chơi được game đó hay không với việc so sánh cấu hình máy tính của bạn với yêu cầu tối thiểu của game đó.<br />
Các phân tích này của dịch vụ là dựa trên việc máy tính của bạn đang sử dụng: hệ điều hành, CPU, RAM và card màn hình như thế nào.</p>
<p>- Dịch vụ này cung cấp hoàn toàn miễn phí và người sử dụng không cần phải đăng ký thành viên.</p>
<p style="text-align: right;"><em><strong>Theo TTCN</strong></em></p>
</blockquote>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2009/09/03/can-you-run-it-ki%e1%bb%83m-tra-kh%e1%ba%a3-nang-t%c6%b0%c6%a1ng-thich-c%e1%bb%a7a-game-va-pc-c%e1%bb%a7a-b%e1%ba%a1n/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nâng cấp Ext3 lên Ext4 không cần format ổ</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/25/nang-c%e1%ba%a5p-ext3-len-ext4-khong-c%e1%ba%a7n-format-%e1%bb%95/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/25/nang-c%e1%ba%a5p-ext3-len-ext4-khong-c%e1%ba%a7n-format-%e1%bb%95/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 25 Aug 2009 15:25:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hardware]]></category>
		<category><![CDATA[Linux]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1678</guid>
		<description><![CDATA[Trong bài viết này chúng ta sẽ đề cập đến một filesystem mới &#8211; ext4 rất ổn định, nhanh và có khả năng tương thích ngược với ext2 và ext3. Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét cách nâng cấp filesystem ext3 hiện tại lên ext4 mà không phải format lại ổ đĩa cứng. 
Chú ý: [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="justify"><strong><span style="color: #333333;">Trong bài viết này chúng ta sẽ đề cập đến một filesystem mới &#8211; ext4 rất ổn định, nhanh và có khả năng tương thích ngược với ext2 và ext3. Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét cách nâng cấp filesystem ext3 hiện tại lên ext4 mà không phải format lại ổ đĩa cứng</span></strong>. <span id="more-1678"></span></p>
<p><em><span style="text-decoration: underline;"><strong>Chú ý</strong></span>: Bất kì tác động gì đến filesystem đều chứa đựng những yếu tố nguy hiểm. Nó có thể làm việc tốt trên hệ thống này, nhưng không đồng nghĩa sẽ làm việc trên hệ thống khác. Bạn có thể phải đối mặt với việc mất dữ liệu vào treo ổ cứng. Vì vậy trước khi thực hiện công việc này, hãy nhớ BACKUP hệ thống và các dữ liệu quan trọng</em>.</p>
<p><strong><span style="color: #0000ff;">Bước 1: Nâng cấp Ubuntu<br />
</span></strong><br />
Đầu tiên, là nâng cấp bản Ubuntu hiện tại lên Ubuntu 9.04. Bạn có thể bỏ qua bước này nếu đã nâng cấp lên Ubuntu 9.04</p>
<p>Nhấn Alt + F2 trên bàn phím và gõ vào:</p>
<blockquote dir="ltr">
<p align="justify"><strong><span style="font-family: 'Courier New';">update-manager -d</span></strong></p>
</blockquote>
<p align="justify">Trình Update Manager xuất hiện. Nhấn vào nút <strong>Upgrade</strong></p>
<p align="center"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/25/Ubuntu-2.jpg" alt="" /></p>
<p align="justify">Phụ thuộc vào kết nối Internet của bạn, việc nâng cấp có thể mất khoảng vài giờ. Cùng lúc đó, vào website Ubuntu vào tải về <strong><a href="http://www.ubuntu.com/GetUbuntu/download" target="_blank">Ubuntu 9.04 LiveCD iso</a></strong></p>
<p>Sau khi đã tải về LiveCD, ghi nó ra một đĩa CD hoặc dùng trình <strong><em>USB Startup Disk Creator</em></strong>(<strong>System</strong> -&gt; <strong>Administration</strong> -&gt;<strong> USB Startup Disk Creator</strong>) để tạo một ổ đĩa USB khởi động.</p>
<p>Khi hệ thống đã hoàn tất việc nâng cấp, khởi động lại máy tính và chắc rằng nó làm việc tốt với hệ thống của bạn.</p>
<p>Sau đó khởi động lại máy tính, và khởi động vào LiveCD.</p>
<p><strong><span style="color: #0000ff;">Bước 2: Nâng cấp lên Ext4<br />
</span></strong><br />
Vào <strong>System</strong> -&gt; <strong>Partition Editor</strong>. Bạn sẽ thấy tất cả các phân vùng của ổ đĩa cứng. Ghi lại filesystem ID của phân vùng mà bạn muốn chuyển đổi sang ext4.</p>
<p align="center"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/25/Ubuntu-3.jpg" alt="" /></p>
<p align="justify">Đóng Partition Editor. Mở một terminal lên, gõ vào dòng lệnh sau:</p>
<blockquote dir="ltr">
<p align="justify"><strong><span style="font-family: 'Courier New';">sudo tune2fs -O extents,uninit_bg,dir_index /dev/XXXX</span></strong></p>
</blockquote>
<p align="justify">Thay thế <em>XXXX</em> bằng <em>filesystem ID</em> mà bạn đã ghi lại trước đó.</p>
<p>Sau đó gõ vào dòng lệnh sau:</p>
<blockquote dir="ltr">
<p align="justify"><strong><span style="font-family: 'Courier New';">sudo fsck -pf /dev/XXXX</span></strong></p>
</blockquote>
<p align="justify">Nhớ thay thế XXXX bằng filesystem ID</p>
<blockquote dir="ltr">
<p align="justify"><strong><span style="font-family: 'Courier New';">Mount filesystem<br />
sudo mount -t ext4 /dev/XXXX /mnt</span></strong></p></blockquote>
<p align="justify">Mở file <em>fstab</em>:</p>
<blockquote dir="ltr">
<p align="justify"><strong><span style="font-family: 'Courier New';">gksu gedit /mnt/etc/fstab</span></strong></p>
</blockquote>
<p align="justify">và chuyển đổi ext3 sang ext4. Lưu lại và thoát ra.</p>
<p align="center"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/25/Ubuntu-4.jpg" alt="" /></p>
<p align="justify">Trở lại với terminal, chúng ta cần cài đặt lại <em>grub bootloader</em></p>
<blockquote dir="ltr">
<p align="justify"><strong><span style="font-family: 'Courier New';">sudo grub-install /dev/XXX</span></strong></p>
</blockquote>
<p align="justify">Lần này, thay thế XXX bằng filesystem mà không có số. Ví dụ, <strong>sudo grub-install /dev/sda</strong></p>
<p>Đóng terminal lại, khởi động lại máy tính. Vào trong ubuntu 9.04.</p>
<p>Trong Terminal gõ:</p>
<blockquote dir="ltr">
<p align="justify"><strong><span style="font-family: 'Courier New';">df -T</span></strong></p>
</blockquote>
<p align="justify">Bạn sẽ thấy filesytem của bạn đã được chuyển thành ext4.</p>
<p align="center"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/25/Ubuntu-5.jpg" alt="" /></p>
<p style="text-align: right;"><strong>Theo Quantrimang</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/25/nang-c%e1%ba%a5p-ext3-len-ext4-khong-c%e1%ba%a7n-format-%e1%bb%95/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Kiểm tra sự cố RAM trong Windows Vista</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/21/ki%e1%bb%83m-tra-s%e1%bb%b1-c%e1%bb%91-ram-trong-windows-vista/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/21/ki%e1%bb%83m-tra-s%e1%bb%b1-c%e1%bb%91-ram-trong-windows-vista/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 21 Aug 2009 16:39:49 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hardware]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1667</guid>
		<description><![CDATA[Nếu gặp phải lỗi chạy ứng dụng, lỗi hệ thống hay lỗi Stop trong Windows Vista, đó là do RAM của bạn có vấn đề. Tuy nhiên Microsoft đã tích hợp công cụ Windows Memory Diagnostic Tool giúp người dùng kiểm tra các chip của RAM trong hệ thống.
Bài viết này sẽ hướng dẫn phương [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Nếu gặp phải lỗi chạy ứng dụng, lỗi hệ thống hay lỗi Stop trong Windows Vista, đó là do RAM của bạn có vấn đề. Tuy nhiên Microsoft đã tích hợp công cụ Windows Memory Diagnostic Tool giúp người dùng kiểm tra các chip của RAM trong hệ thống.<span id="more-1667"></span></strong></p>
<p>Bài viết này sẽ hướng dẫn phương pháp khởi chạy và sử dụng Windows Memory Diagnostic Tool.</p>
<p><span style="color: #0000ff;"><strong>Khởi chạy Windows Memory Diagnostic Tool</strong></span><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/20/Ramtool.jpg" alt="" vspace="7" width="280" height="186" align="right" /></p>
<p>Thực ra có khá nhiều cách khởi chạy công cụ này. Tuy nhiên trong mỗi tình huống cụ thể lại sử dụng một phương pháp riêng.</p>
<p>Nếu gặp phải những lỗi ngắt quãng nhưng vẫn có thể khởi động vào Vista, bạn có thể khởi chạy công cụ Windows Memory Diagnostic bằng cách click vào nút <strong>Start</strong>, lựa chọn<strong>Control Panel </strong>sau đó click tiếp vào biểu tượng <strong>System And Maintenance</strong>. Khi cửa sổ <strong>System And Maintainance</strong> xuất hiện, lựa chọn <strong>Administrative Tools</strong> rồi click vào biểu tượng <strong>Memory Diagnostics Tool</strong>.</p>
<p>Hoặc bạn có thể click vào nút <strong>Start</strong> và nhập từ <strong>Memory</strong> vào hộp <strong>Start Search</strong>, sau đó click vào biểu tượng <strong>Memory Diagnostics Tool</strong>. Nếu một cửa sổ UAC hiện ra, bạn cần phải thực hiện các cài đặt phù hợp với hệ thống.</p>
<p>Khi thấy hộp thoại <strong>Windows Memory Diagnostics Tool</strong> hiện ra, click vào tùy chọn <strong>Restart now and check for problems</strong> (Khởi chạy ngay và kiểm tra lỗi). Sau khi click vào tùy chọn đó hộp thoại này sẽ lập tức bị đóng và hệ thống sẽ tự khởi động lại.</p>
<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="4" width="100" align="center">
<tbody>
<tr align="center">
<td><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/20/RAM1.jpg" alt="" width="430" height="352" align="middle" /></td>
</tr>
<tr>
<td>
<div><span style="color: #0000ff;"><em>Click vào tùy chọn <strong>Restart now and check for problems </strong>để khởi chạy<strong>Windows Memory Diagnostics Tool</strong>.</em></span></div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Nếu gặp phải sự cố không thể khởi động Vista, bạn có thể chạy công cụ này từ menu<strong>Windows Boot Manager</strong>. Ấn và giữ phím F8 trong lúc hệ thống khởi động. Khi menu<strong>Windows Boot Manager</strong> hiện ra, sử dụng phím mũi tên để lựa chọn tùy chọn <strong>Windows Memory Diagnostic</strong> ở phía cuối màn hình và nhấn phím<strong> Enter</strong>.</p>
<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="4" width="100" align="center">
<tbody>
<tr align="center">
<td><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/20/RAM2.jpg" alt="" width="504" height="379" align="middle" /></td>
</tr>
<tr align="center">
<td><span style="color: #0000ff;"><em>Khởi động <strong>Windows Memory Diagnostics Tool</strong> từ menu <strong>Windows Boot Manager</strong>.</em></span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Nếu gặp phải những vấn đề trầm trọng hơn khi khởi động Windows Vista, bạn có thể chạy<strong>Windows Memory Diagnostics</strong> <strong>Tool</strong> từ <strong>đĩa cài Windows Vista</strong>. Khởi động hệ thống từ đĩa và làm theo hướng dẫn cho đến khi thấy thông báo<strong> Install Now</strong> (cài đặt ngay). Khi thấy thông báo này, định vị và lựa chọn tùy chọn <strong>Repair Your Computer</strong>. Sau đó bạn lựa chọn<strong>Windows Memory Diagnostics Tool</strong> trong menu <strong>System Recovery Options</strong>.</p>
<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="4" width="100" align="center">
<tbody>
<tr align="center">
<td><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/20/RAM3.jpg" alt="" width="504" height="378" align="middle" /></td>
</tr>
<tr>
<td>
<div><span style="color: #0000ff;"><em>Khởi chạy <strong>Windows Memory Diagnostics Tool</strong> từ đĩa cài Windows Vista.</em></span></div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><span style="color: #0000ff;"><strong>Chạy và kiểm tra</strong></span></p>
<p>Không chú ý tới cách khởi chạy công cụ, khi màn hình của công cụ Windows Memory Diagnostics Tool xuất hiện, quá trình kiểm tra sẽ bắt đầu. Khi quá trình kiểm tra đang tiến hành, bạn sẽ thấy tiến độ thực hiện được tính theo phần trăm và một thanh minh họa tiến độ này. Trong khi kiểm tra, Windows Memory Diagnostics Tool thực hiện bằng cách lặp lại ghi giá trị vào bộ nhớ sau đó đọc những giá trị này để khẳng định rằng dữ liệu đó không bị thay đổi.</p>
<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="4" width="100" align="center">
<tbody>
<tr align="center">
<td><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/20/RAM5.jpg" alt="" width="504" height="379" align="middle" /></td>
</tr>
<tr align="center">
<td><span style="color: #0000ff;"><em>Khi màn hình của <strong>Windows Memory Diagnostics Tool </strong>xuất hiện là lúc<br />
quá trình kiểm tra được bắt đầu.</em></span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Theo mặc định, Windows Memory Diagnostics Tool thực hiện một quá trình kiểm tra chuẩn, nhưng bạn có thể thực hiện hai phương kiểm tra khác nhau. Để thay đổi phương pháp kiểm tra, nhấn phím <strong>F11</strong> để vào màn hình <strong>Options</strong>.</p>
<p>Menu <strong>Option</strong> của <strong>Windows Memory Diagnostics Tool </strong>cho phép lựa chọn phương thức kiểm tra <strong>Basic </strong>hoặc <strong>Extended</strong>.</p>
<p>Trong mục <strong>Test Mix </strong>của màn hình <strong>Options</strong> bạn có thể chọn<strong> Basic Mix </strong>thực hiện số lượng kiểm tra nhất định, hay <strong>Extended Mix</strong> chạy một nhóm tác vụ kiểm tra toàn diện. Trong thực tế, <strong>Extended Mix </strong>sẽ khởi chạy sau mỗi 8 giờ hoặc hơn.</p>
<p>Mỗi Test Mix có một số cài đặt Cache mặc định tối ưu nhất cho Test Mix đó. Tuy nhiên bạn có thể nhấn Tab để truy cập vào Cache và lựa chọn một cài đặt cache riêng. Trong một số trường hợp Cache được kiểm tra là Cache trên vi xử lý được sử dụng để lưu giữ liệu nén từ các module lưu trữ. Trong khi một số tiến trình kiểm tra sử dụng Cache, một số khác lại hủy bỏ Cache để ép buộn vi xử lý truy cập vào mọi dữ liệu từ module lưu trữ.</p>
<p>Mặc định mỗi Test Mix sẽ lặp lại hai lần. Tuy nhiên bạn có thể nhấn Tab để truy cập vào vùng<strong>Pass Count</strong> và lựa chọn số lần muốn quá trình kiểm tra lặp lại. Sau khi thực hiện xong cài đặt, nhấn <strong>F10 </strong>để lưu lại và bắt đầu Test Mix.</p>
<p>Khi quá trình kiểm tra khởi chạy, vùng <strong>Status</strong> sẽ thông báo cho bạn khi phát hiện lỗi. Tuy nhiên, bạn không phải quan sát trên màn hình vì Windows Memory Diagnostics Tool có thể xác định và tránh sử dụng vùn lỗi của chip và cho phép Vista khởi động mà không bị phá hủy. Báo cáo kết quả tra sẽ được hiển thị trên vùng thông báo khi hệ thống đã khởi động lại.</p>
<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="4" width="100" align="center">
<tbody>
<tr align="center">
<td><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/20/RAM6.jpg" alt="" width="444" height="114" align="middle" /></td>
</tr>
<tr align="center">
<td><span style="color: #0000ff;"><em>Kết quả kiểm tra được hiển thị trên vùng thông báo.</em></span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Bạn cũng có thể thấy kết quả báo cáo trong <strong>System Event Log </strong>bên dưới <strong>Source name MemoryDiagnosticsResults</strong> và <strong>Event ID 1201</strong>.</p>
<p style="text-align: right;"><strong><em>Theo Quantrimang</em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/21/ki%e1%bb%83m-tra-s%e1%bb%b1-c%e1%bb%91-ram-trong-windows-vista/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lưu ý khi lau chùi, vệ sinh LCD và laptop</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/21/l%c6%b0u-y-khi-lau-chui-v%e1%bb%87-sinh-lcd-va-laptop/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/21/l%c6%b0u-y-khi-lau-chui-v%e1%bb%87-sinh-lcd-va-laptop/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 21 Aug 2009 08:51:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Laptop]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1665</guid>
		<description><![CDATA[Màn hình LCD máy tính được phủ trên bề mặt một loại chất nhựa tổng hợp, trong khi màn hình CRT được làm bằng chất liệu thủy tinh. Vì vậy việc lau chùi vệ sinh hai loại màn hình này sẽ hoàn toàn khác nhau.
Dưới đây là một số kinh nghiệm và những lưu ý khi bạn vệ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Màn hình LCD máy tính được phủ trên bề mặt một loại chất nhựa tổng hợp, trong khi màn hình CRT được làm bằng chất liệu thủy tinh. Vì vậy việc lau chùi vệ sinh hai loại màn hình này sẽ hoàn toàn khác nhau.<span id="more-1665"></span></p>
<p class="pBody">Dưới đây là một số kinh nghiệm và những lưu ý khi bạn vệ sinh LCD và màn hình laptop:</p>
<p class="pSuperTitle">Những công cụ cần dùng:</p>
<p class="pBody">- Một miếng vải mềm bằng cotton.</p>
<p class="pBody">- Nước tinh khiết (nước khoáng sạch), rượu iso-propyl hoặc giấm cũng được.</p>
<p class="pBody">- Một chai đựng dung dịch, tốt nhất là một loại bình xịt.</p>
<p class="pSuperTitle">Cách lau chùi màn hình:</p>
<p class="pSuperTitle">
<table class="tLegend" style="border-collapse: separate;" border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" width="40" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img src="http://nhipsongso.tuoitre.com.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=355599" border="1" alt="" hspace="0" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Lau chùi vệ sinh LCD và laptop cần chú ý những gì</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p class="pBody">- Nếu màn hình của bạn bị bám bụi, chỉ cần dùng nước sạch để lau chùi là đủ. Còn nếu màn hình có những dấu tay in lên hoặc một số vết bẩn, hãy dùng rượu iso-propyl cùng với nước tinh khiết để lau chùi. Lưu ý: không bao giờ lau bằng một tấm vải khô, vì nếu dùng vải khô các vết bụi lau sẽ dễ tạo trên màn hình những vết xước.</p>
<p class="pBody">- Khi dùng rượu iso-propyl hoặc giấm, bạn nên pha chúng với nước tinh khiết, sau đó đổ dung dịch này vào một chai đựng.</p>
<p class="pBody">- Phun dung dịch vừa pha lên tấm vải mềm, không phun trực tiếp lên màn hình. Đối với máy tính xách tay, khi phun dung dịch vào khăn mềm, tấm khăn cần phải được đặt ở vị trí cách xa máy. Ngoài ra, khi phun bạn chỉ cần tập trung vào một vị trí trên tấm vải (tốt nhất là ở góc khăn) thay vì phun lên toàn bộ khăn.</p>
<p class="pBody">- Cầm khăn lau nhẹ nhàng và từ từ trên màn hình. Khi lau, bạn có thể chọn lau theo chiều dọc hoặc chiều ngang của màn hình, hoặc kết hợp cả hai cách. Đặc biệt tại khu vực có nhiều vết bẩn, bạn hãy tập trung chùi đi chùi lại nhiều lần và tuyệt đối không lau quá mạnh tay.</p>
<p class="pSuperTitle">Những điều cần tránh trong quá trình vệ sinh màn hình:</p>
<p class="pBody">- Tuyệt đối không dùng các loại nước lau chùi cửa kính được bán trên thị trường, xà bông&#8230; bởi chúng có hóa chất có thể ảnh hưởng đến màn hình của bạn. Những chất liệu mà bạn cần tuyệt đối tránh khi mua nước lau chùi màn hình là ammonia, ccetone, toluene hoặc rượu ethyl (cồn).</p>
<p class="pBody">- Không phun trực tiếp lên màn hình. Nếu không có chai xịt, bạn có thể đổ dung dịch lau chùi lên vải mềm và chắc chắn rằng tấm vải của bạn phải khô ráo, không được ẩm ướt. Không được phun dung dịch gần máy tính xách tay do chúng có thể văng vào những khe hở của máy gây hư hỏng các linh kiện bên trong.</p>
<p class="pBody">- Khăn giấy, báo hay bất kỳ một loại giấy nào là những thứ tuyệt đối không được sử dụng vì chúng rất dễ làm xước màn hình.</p>
<p class="pBody">- Không dùng nước sinh hoạt của gia đình vì chúng có chứa muối hòa tan và một số chất khác rất dễ làm hỏng màn hình của bạn.</p>
<p class="pBody">- Khi lau chùi phải đảm bảo màn hình LCD hoặc máy tính xách tay ở trạng thái tắt hoàn toàn. Nếu máy vừa hoạt động xong còn nóng, bạn hãy chờ cho đến khi nó nguội hoàn toàn.</p>
<p class="pBody">- Không nên đặt quá nhiều vật nặng lên trên màn hình trong quá trình lau chùi. Điều này có thể làm hỏng vĩnh viễn màn hình của bạn.</p>
<p class="pBody"><strong>Theo TTO</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/21/l%c6%b0u-y-khi-lau-chui-v%e1%bb%87-sinh-lcd-va-laptop/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sự phát triển Internet cũng kéo nguy hiểm hơn với những đe dọa như: virus, trojan, hacker, keylogger, malware, spyware gây nguy hiểm cho người sử dụng máy tính. Do vậy, bạn thường phải sử dụng một chương trình anti-virus nào đó để bảo vệ máy tính, bạn có thể tạo đĩa CD cứu hộ máy tính khi gặp sự cố. Khi virus làm cho máy tính không thể vào được Windows hay bạn sửa máy tính hộ cho một ai đó khi không có chương trình diệt virut đáng tin cậy thì lúc này đĩa cứu hộ của Kaspersky sẽ phát huy tác dụng  CD cứu hộ của Kaspersky tuy rất thiết thực nhưng vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm:  Mỗi lần bạn cập nhật dữ liệu cho Kaspersky thì bạn lại phải làm lại từ đầu, tức là bạn lại phải làm ra cd cứu hộ mới, nếu bạn dùng đĩa CD-RW (DVD-RW) thì không có vấn đề gì do đĩa có khả năng xóa được nhưng nếu đó chỉ là đĩa Cdrom (DVD Rom) thì mỗi lần bạn cập nhật bạn lại tốn đĩa trắng để ghi. Nhưng nếu bạn sử dụng USB để chạy và cứu hộ máy tính với Kaspersky thì việc cập nhật rất dễ dàng và không hề gây tốn đĩa do không phải ghi ra đĩa.  A. Tạo Kaspersky cứu hộ  Để có thể làm được USB cứu hộ máy tính với Kaspersky thì bạn cần phải cài Kaspersky và update lại cơ sở dữ liệu về virut của Kaspersky, chương trình PE Buider. Bạn download PE Buider tại http://tinyurl.com/qpky, sau khi tải về bạn tiến hành cài đặt PE Buider. Sau đó bạn copy bộ cài đặt Windows XP vào ổ cứng ( giả sử là F:\Setup XP). Trong cửa sổ của Kaspersky, bạn chọn thẻ Scan, bấm vào nút Create Resscue Disk.  Bước 1: General information  Bạn click Next để sang bước 2  Bước 2: Geting ready to burn  itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_01.jpg  Trong ô Installed PE Buider folder bạn nhập đường dẫn đến thư mục cài đặt PE Buider (C:\pebuilder3110a), trong ô Output folder bạn nhập đường dẫn đến thư mục muốn lưu file tạm cứu hộ của Kaspersky (C:\pebuilder3110a\KAV), trong ô Path to Microsoft windows XP service Pack 2 installation CD bạn nhập đường dẫn đến bộ cài đặt Windows XP (F:\Setup XP). Click next để tiếp tục, khi gặp bảng thông báo The folder you have specified does not exits. Do you wish to create it bạn chọn Yes và đợi khoảng 1 phút để Kaspersky bắt đầu tạo file iso cứu hộ.  Bước 3: ISO file creation  itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_02.jpg  Sau khi kết thúc, hộp thoại tạo file iso xuất hiện, bạn chọn Create new ISO file, đặt tên và thư mục lưu file iso. Click Next.  Bước 4: Burnining the CD  Vì ta sử dụng Kaspersky cứu hộ trên USB do vậy ta chọn Burn later trong choose one ò the following. Click Next, Finish để kết thúc.  B.Tạo USB cứu hộ Kaspersky  Bước 1: Format và copy các file cần thiết của Kaspersky lên USB.  Bạn tải file PeToUSB với dung lượng 100 Kb tại http://www.mediafire.com/?eptkdj06vty. Sau khi giải nén bạn click vào file PeToUSB.exe để chạy và lựa chọn như sau  itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_03.jpg  Trong Destination Driver bạn chọn USB Removable. Trong Format Options bạn chọn Enable Disk Format và Quick Format. Trong Driver Lable bạn đặt lại tên cho usb nếu cần. Trong Source Path To Built BartPE/WinPE Files bạn click vào nút có biểu tượng &#8220;ba chấm&#8221; để chọn đường dẫn đến thư mục lưu file tạm của Kaspersky ( C:\pebuilder3110a\KAV ), thư mục lưu file tạm chứ không phải file ISO của Kaspersky. Trong File Copy Options bạn chọn Enable File copy và chọn Overwrite Always.  Sau đó bạn click Start và Yes 2 lần để xác nhận Format usb và copy các file của Kaspersky lên usb. PeToUSB sẽ tạo khởi động cho ổ USB và copy các file thư mục lên usb, riêng thư mục I386 sẽ được chuyển thành minint.  itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_04.jpg  Bước 2: Thiết lập BIOS để khởi động và boot bằng USB.  Khởi động lại máy và bấm Deletde ( hay phím tương đương, tùy vào từng máy) để vào BIOS.  ( Bài viết này minh họa qua Motherboards Gigabyte 945GZM-S2 sử dụng BIOS của Award ) Sau khi vào BIOS bạn tìm đến mục Advanced BIOS Features, ấn phím Enter, tìm dòng Hard Disk Boot Priority và click Enter bạn dùng phím Page Up và Page Down để di chuyển mục USB-HDD: USB 2.0 Flash Disk lên boot đầu tiên ( số 1), ấn Esc để thoát khỏi Hard Disk Boot Priority. Tiếp đến chọn USB-CDROM hoặc USB-HDD trong First Boot Device, ấn F10 và chọn Y rồi gõ Enter để xác nhận thay đổi và khởi động lại. Sau khi khởi động lại Kaspersky sẽ boot và chạy trực tiếp trên usb.  Bước 3: Cập nhật cơ sở dữ liệu của virut cho Kaspersky usb.  Để cập nhật dữ liệu cho Kaspersky usb bạn cần phải vào www.kaspersky.com/avupdates rồi chọn đúng phiên bản Kaspersky bạn đang dùng. Sau khi trình duyệt mở ra bạn thì tùy vào bản Kaspersky AntiVirus hay Kaspersky Internet Security bạn đang sử dụng mà chọn file cập nhật. Nếu bạn đang sử dụng Kaspersky AntiVirus thì các file cập nhật có tên là av-i386-xxxxxx.zip, còn nếu bạn sử dụng hay Kaspersky Internet Security thì các file cập nhật có tên là av-i386&amp;ids-xxxxxx.zip. Trong các file trên, file có phần đuôi là xxxxxx = daily là những file cập nhật từ chủ nhật trong tuần đến ngày hiện tại ( tức ngày bạn download), file có phần đuôi là xxxxxx = weekly là những file cập nhật của tuần trước, file có phần đuôi là xxxxxx = cumul là những file cập nhật từ đầu đến chủ nhật trong tuần. Sau khi tải về máy bạn dùng winrar giải nén ra.  Bạn cắm USB vào máy và tiến hành khởi động lại máy và boot bằng Kaspersky USB ( làm như bước 2). Sau khi đã boot và vào được WinPe bạn click vào Go &gt; Programs &gt; Kaspersky Internet Security (Kaspersky AntiVirus ) &gt; Start để khởi chạy Kaspersky.  itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_05.jpg  Sau đó bạn click vào biểu tượng của Kaspersky ở thanh Task Manager và chọn Setting &gt; Update &gt; Cofigure. Click vào Add và chọn thư mục mà bạn đã tải file cập nhật đã giải nén ra. Click Ok, Apply, click Ok.  itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_06.jpg  itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_07.jpg  Sau đó bạn click vào biểu tượng của Kaspersky ở thanh Task Manager và chọn Update, bạn đợi 1 chút để Kaspersky bắt đầu cập nhật cơ sở dữ liệu của virut. itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_08.jpg Lưu ý:  Do usb có khả năng ghi nên bạn không nên cắm usb vào những máy không an toàn, có virut nên cắm bạn chỉ cắm vào máy của mình để update, hay dùng riêng một usb có dung lượng 256 Mb chỉ để làm Kaspersky usb, khi bạn quét virut cho máy bị nhiễm bạn không được cắm usb vào máy khi đang ở windows vì như thế rất có khả năng usb sẽ bị nhiễm virut. Sau khi khởi động lại máy cần quét virut bạn hãy cắm usb vào cây và làm như bước 3 để chọn usb khởi động đầu tiên.  Với một số main đời cũ thì không dùng được Kaspersky usb do không hỗ trợ khởi động từ usb. Dù bạn dùng phiên bản Kaspersky AntiVirus hay Kaspersky Internet Security thì khi làm ra đĩa CDrom, USB cứu hộ đều là Kaspersky Internet Security.  xhtt</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/09/s%e1%bb%b1-phat-tri%e1%bb%83n-internet-cung-keo-nguy-hi%e1%bb%83m-h%c6%a1n-v%e1%bb%9bi-nh%e1%bb%afng-de-d%e1%bb%8da-nh%c6%b0-virus-trojan-hacker-keylogger-malware-spyware-gay-nguy-hi%e1%bb%83m-c/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/09/s%e1%bb%b1-phat-tri%e1%bb%83n-internet-cung-keo-nguy-hi%e1%bb%83m-h%c6%a1n-v%e1%bb%9bi-nh%e1%bb%afng-de-d%e1%bb%8da-nh%c6%b0-virus-trojan-hacker-keylogger-malware-spyware-gay-nguy-hi%e1%bb%83m-c/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 08 Aug 2009 23:04:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[CD/DVD]]></category>
		<category><![CDATA[Hardware]]></category>
		<category><![CDATA[Security]]></category>
		<category><![CDATA[USB]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1576</guid>
		<description><![CDATA[Sự phát triển Internet cũng kéo nguy hiểm hơn với những đe dọa như: virus, trojan, hacker, keylogger, malware, spyware gây nguy hiểm cho người sử dụng máy tính. Do vậy, bạn thường phải sử dụng một chương trình anti-virus nào đó để bảo vệ máy tính, bạn có thể tạo đĩa CD cứu hộ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Sự phát triển Internet cũng kéo nguy hiểm hơn với những đe dọa như: virus, trojan, hacker, keylogger, malware, spyware gây nguy hiểm cho người sử dụng máy tính.<span id="more-1576"></span> Do vậy, bạn thường phải sử dụng một chương trình anti-virus nào đó để bảo vệ máy tính, bạn có thể tạo đĩa CD cứu hộ máy tính khi gặp sự cố. Khi virus làm cho máy tính không thể vào được Windows hay bạn sửa máy tính hộ cho một ai đó khi không có chương trình diệt virut đáng tin cậy thì lúc này đĩa cứu hộ của Kaspersky sẽ phát huy tác dụng</p>
<p align="justify"><strong><span style="font-family: Arial; font-size: x-small;">CD cứu hộ của Kaspersky tuy rất thiết thực nhưng vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm:<br />
</span></strong><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Mỗi lần bạn cập nhật dữ liệu cho Kaspersky thì bạn lại phải làm lại từ đầu, tức là bạn lại phải làm ra cd cứu hộ mới, nếu bạn dùng đĩa CD-RW (DVD-RW) thì không có vấn đề gì do đĩa có khả năng xóa được nhưng nếu đó chỉ là đĩa Cdrom (DVD Rom) thì mỗi lần bạn cập nhật bạn lại tốn đĩa trắng để ghi. Nhưng nếu bạn sử dụng USB để chạy và cứu hộ máy tính với Kaspersky thì việc cập nhật rất dễ dàng và không hề gây tốn đĩa do không phải ghi ra đĩa.<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>A. Tạo Kaspersky cứu hộ</strong><br />
</span></span></span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Để có thể làm được USB cứu hộ máy tính với Kaspersky thì bạn cần phải cài Kaspersky và update lại cơ sở dữ liệu về virut của Kaspersky, chương trình PE Buider. Bạn download PE Buider tại http://tinyurl.com/qpky, sau khi tải về bạn tiến hành cài đặt PE Buider. Sau đó bạn copy bộ cài đặt Windows XP vào ổ cứng ( giả sử là F:\Setup XP). Trong cửa sổ của Kaspersky, bạn chọn thẻ Scan, bấm vào nút Create Resscue Disk.<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>Bước 1</strong>: General information<br />
</span></span></span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Bạn click Next để sang bước 2<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>Bước 2</strong>: Geting ready to burn<br />
</span></span></span></p>
<p align="center"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;"><img src="http://www.itgatevn.com.vn/pictures/web/news/2008_05/itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_01.jpg" border="0" alt="itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_01.jpg" width="450" height="212" /></span></p>
<p align="justify"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Trong ô Installed PE Buider folder bạn nhập đường dẫn đến thư mục cài đặt PE Buider (C:\pebuilder3110a), trong ô Output folder bạn nhập đường dẫn đến thư mục muốn lưu file tạm cứu hộ của Kaspersky (C:\pebuilder3110a\KAV), trong ô Path to Microsoft windows XP service Pack 2 installation CD bạn nhập đường dẫn đến bộ cài đặt Windows XP (F:\Setup XP). Click next để tiếp tục, khi gặp bảng thông báo The folder you have specified does not exits. Do you wish to create it bạn chọn Yes và đợi khoảng 1 phút để Kaspersky bắt đầu tạo file iso cứu hộ.<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>Bước 3</strong>: ISO file creation<br />
</span></span></span></p>
<p align="center"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;"><img src="http://www.itgatevn.com.vn/pictures/web/news/2008_05/itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_02.jpg" border="0" alt="itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_02.jpg" width="450" height="190" /></span></p>
<p align="justify"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Sau khi kết thúc, hộp thoại tạo file iso xuất hiện, bạn chọn Create new ISO file, đặt tên và thư mục lưu file iso. Click Next.<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>Bước 4</strong>: Burnining the CD<br />
</span></span></span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Vì ta sử dụng Kaspersky cứu hộ trên USB do vậy ta chọn Burn later trong choose one ò the following. Click Next, Finish để kết thúc.<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>B.Tạo USB cứu hộ Kaspersky</strong><br />
</span></span></span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>Bước 1</strong>: Format và copy các file cần thiết của Kaspersky lên USB.<br />
</span></span></span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Bạn tải file PeToUSB với dung lượng 100 Kb tại </span><a id="alive_link" title="size = 92.08 KB" href="http://www.xahoithongtin.com.vn/redirect.asp?rd=http://www.mediafire.com/?eptkdj06vty" target="hyperlink"></a><span style="text-decoration: underline;"><span style="font-family: Arial; font-size: x-small;"><a id="alive_link" title="size = 92.08 KB" href="http://www.mediafire.com/?eptkdj06vty">http://www.mediafire.com/?eptkdj06vty</a></span></span></span></p>
<p><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial; font-size: x-small;">.<br />
</span></span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Sau khi giải nén bạn click vào file PeToUSB.exe để chạy và lựa chọn như sau<br />
</span></p>
<p align="center"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;"><img src="http://www.itgatevn.com.vn/pictures/web/news/2008_05/itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_03.jpg" border="0" alt="itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_03.jpg" width="408" height="419" /></span></p>
<p align="justify"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Trong Destination Driver bạn chọn USB Removable.<br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Trong Format Options bạn chọn Enable Disk Format và Quick Format.<br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Trong Driver Lable bạn đặt lại tên cho usb nếu cần.<br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Trong Source Path To Built BartPE/WinPE Files bạn click vào nút có biểu tượng &#8220;ba chấm&#8221; để chọn đường dẫn đến thư mục lưu file tạm của Kaspersky ( C:\pebuilder3110a\KAV ), thư mục lưu file tạm chứ không phải file ISO của Kaspersky.<br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Trong File Copy Options bạn chọn Enable File copy và chọn Overwrite Always.<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Sau đó bạn click Start và Yes 2 lần để xác nhận Format usb và copy các file của Kaspersky lên usb. PeToUSB sẽ tạo khởi động cho ổ USB và copy các file thư mục lên usb, riêng thư mục I386 sẽ được chuyển thành minint.<br />
</span></p>
<p align="center"><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong><img src="http://www.itgatevn.com.vn/pictures/web/news/2008_05/itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_04.jpg" border="0" alt="itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_04.jpg" width="450" height="213" /></strong></span></span></span></p>
<p align="justify"><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>Bước 2:</strong> Thiết lập BIOS để khởi động và boot bằng USB.<br />
</span></span></span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Khởi động lại máy và bấm Deletde ( hay phím tương đương, tùy vào từng máy) để vào BIOS.<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">( Bài viết này minh họa qua Motherboards Gigabyte 945GZM-S2 sử dụng BIOS của Award )<br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Sau khi vào BIOS bạn tìm đến mục Advanced BIOS Features, ấn phím Enter, tìm dòng Hard Disk Boot Priority và click Enter bạn dùng phím Page Up và Page Down để di chuyển mục USB-HDD: USB 2.0 Flash Disk lên boot đầu tiên ( số 1), ấn Esc để thoát khỏi Hard Disk Boot Priority. Tiếp đến chọn USB-CDROM hoặc USB-HDD trong First Boot Device, ấn F10 và chọn Y rồi gõ Enter để xác nhận thay đổi và khởi động lại.<br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Sau khi khởi động lại Kaspersky sẽ boot và chạy trực tiếp trên usb.<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>Bước 3</strong>: Cập nhật cơ sở dữ liệu của virut cho Kaspersky usb.<br />
</span></span></span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Để cập nhật dữ liệu cho Kaspersky usb bạn cần phải vào </span><a href="http://www.xahoithongtin.com.vn/redirect.asp?rd=http://www.kaspersky.com/avupdates" target="hyperlink"><span style="text-decoration: underline;"><span style="font-family: Arial; font-size: x-small;">www.kaspersky.com/avupdates</span></span></a><span style="font-family: Arial; font-size: x-small;"> rồi chọn đúng phiên bản Kaspersky bạn đang dùng. Sau khi trình duyệt mở ra bạn thì tùy vào bản Kaspersky AntiVirus hay Kaspersky Internet Security bạn đang sử dụng mà chọn file cập nhật. Nếu bạn đang sử dụng Kaspersky AntiVirus thì các file cập nhật có tên là av-i386-xxxxxx.zip, còn nếu bạn sử dụng hay Kaspersky Internet Security thì các file cập nhật có tên là av-i386&amp;ids-xxxxxx.zip. Trong các file trên, file có phần đuôi là xxxxxx = daily là những file cập nhật từ chủ nhật trong tuần đến ngày hiện tại ( tức ngày bạn download), file có phần đuôi là xxxxxx = weekly là những file cập nhật của tuần trước, file có phần đuôi là xxxxxx = cumul là những file cập nhật từ đầu đến chủ nhật trong tuần. Sau khi tải về máy bạn dùng winrar giải nén ra.<br />
</span></span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Bạn cắm USB vào máy và tiến hành khởi động lại máy và boot bằng Kaspersky USB ( làm như bước 2). Sau khi đã boot và vào được WinPe bạn click vào Go &gt; Programs &gt; Kaspersky Internet Security (Kaspersky AntiVirus ) &gt; Start để khởi chạy Kaspersky.<br />
</span></p>
<p align="center"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;"><img src="http://www.itgatevn.com.vn/pictures/web/news/2008_05/itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_05.jpg" border="0" alt="itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_05.jpg" width="450" height="166" /></span></p>
<p align="justify"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Sau đó bạn click vào biểu tượng của Kaspersky ở thanh Task Manager và chọn Setting &gt; Update &gt; Cofigure. Click vào Add và chọn thư mục mà bạn đã tải file cập nhật đã giải nén ra. Click Ok, Apply, click Ok.<br />
</span></p>
<p align="center"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;"><img src="http://www.itgatevn.com.vn/pictures/web/news/2008_05/itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_06.jpg" border="0" alt="itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_06.jpg" width="196" height="168" /></span></p>
<p align="center"><img src="http://www.itgatevn.com.vn/pictures/web/news/2008_05/itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_07.jpg" border="0" alt="itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_07.jpg" width="304" height="335" /></p>
<p align="justify"><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Sau đó bạn click vào biểu tượng của Kaspersky ở thanh Task Manager và chọn Update, bạn đợi 1 chút để Kaspersky bắt đầu cập nhật cơ sở dữ liệu của virut.<br />
</span></p>
<div><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong><img src="http://www.itgatevn.com.vn/pictures/web/news/2008_05/itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_08.jpg" border="0" alt="itGatevn_2008031343_USB-Kaspersky_08.jpg" width="450" height="115" /></strong></span></span></span></div>
<div><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial;"><span style="font-size: x-small;"><strong>Lưu ý:</strong><br />
</span></span></span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews" style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Do usb có khả năng ghi nên bạn không nên cắm usb vào những máy không an toàn, có virut nên cắm bạn chỉ cắm vào máy của mình để update, hay dùng riêng một usb có dung lượng 256 Mb chỉ để làm Kaspersky usb, khi bạn quét virut cho máy bị nhiễm bạn không được cắm usb vào máy khi đang ở windows vì như thế rất có khả năng usb sẽ bị nhiễm virut. Sau khi khởi động lại máy cần quét virut bạn hãy cắm usb vào cây và làm như bước 3 để chọn usb khởi động đầu tiên.<br />
</span><span class="Hotnews"><br />
</span><span class="Hotnews"><span style="font-family: Arial; font-size: x-small;">Với một số main đời cũ thì không dùng được Kaspersky usb do không hỗ trợ khởi động từ usb. Dù bạn dùng phiên bản Kaspersky AntiVirus hay Kaspersky Internet Security thì khi làm ra đĩa CDrom, USB cứu hộ đều là Kaspersky Internet Security.</span></span></div>
<p><em>xhtt</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/09/s%e1%bb%b1-phat-tri%e1%bb%83n-internet-cung-keo-nguy-hi%e1%bb%83m-h%c6%a1n-v%e1%bb%9bi-nh%e1%bb%afng-de-d%e1%bb%8da-nh%c6%b0-virus-trojan-hacker-keylogger-malware-spyware-gay-nguy-hi%e1%bb%83m-c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm hiểu về HDMI</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/08/tim-hi%e1%bb%83u-v%e1%bb%81-hdmi/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/08/tim-hi%e1%bb%83u-v%e1%bb%81-hdmi/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 08 Aug 2009 08:33:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hardware]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1636</guid>
		<description><![CDATA[HDMI mới nhưng đơn giản ở chỗ: truyền tải cả âm thanh, hình ảnh chất lượng cao và chất lượng này không phụ thuộc vào giá tiền mua cáp. 

Chỉ trong vòng vài năm, HDMI đã trở thành chuẩn kết nối audio và video chất lượng cao thông dụng. Giờ đây thế hệ HDTV mới nào [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="justify"><strong>HDMI mới nhưng đơn giản ở chỗ: truyền tải cả âm thanh, hình ảnh chất lượng cao và chất lượng này không phụ thuộc vào giá tiền mua cáp. <span id="more-1636"></span><br />
</strong><br />
Chỉ trong vòng vài năm, HDMI đã trở thành chuẩn kết nối audio và video chất lượng cao thông dụng. Giờ đây thế hệ HDTV mới nào cũng đều có ít nhất hai cổng HDMI, còn các thiết bị đọc như đầu DVD, đầu ghi DVD, đầu Blu-ray hay các máy chơi game, thậm chí cả máy tính đều tích hợp cổng xuất HDMI cho đường hình và tiếng. Với chỉ một sợi cáp truyền tải cả âm thanh và hình ảnh, HDMI đã làm cho thao tác kết nối trong hệ thống rạp hát tại gia trở nên đơn giản hơn nhiều. Tuy nhiên, các chuẩn HDMI 1.2, HDMI 1.3, hay tính năng hỗ trợ Deep Color cũng như sự chênh lệch giá giữa các loại cáp không khỏi gây mơ hồ cho đại bộ phận người dùng, đẩy họ quay về với những dạng cáp kết nối analog đơn giản hơn hoặc ít ra họ biết hơn.</p>
<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="4" width="100" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/hdmi1.jpg" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="justify"><span style="color: #3366ff;">Cáp HDMI là một chuẩn kết nối kỹ thuật số có khả năng truyền tải video HD cũng như âm thanh chất lượng cao trên cùng một sợi cáp. <em>Ảnh: Upandruningdenver</em>.</span></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong><span style="color: #333399;">HDMI là gì?</span></strong></p>
<p>HDMI là các chữ cái viết tắt của Giao diện đa phương tiện phân giải cao (High-Definition Multimedia Interface). Về cơ bản, HDMI là một chuẩn kết nối kỹ thuật số có khả năng truyền tải video HD cũng như âm thanh chất lượng cao trên cùng một sợi cáp. Trước đây, để có thể truyền tải các nội dung tương tự trên cáp analog, người ta phải dùng đến 3 cáp kết nối video (cổng component) cộng thêm với 6 cáp âm thanh analog nữa.</p>
<p>HDMI được dùng chủ yếu cho những kết nối tới các thiết bị cần độ phân giải cao như đầu ghi DVD HD hay HDTV. Thao tác kết nối rất đơn giản, bạn cắm một đầu cáp vào cổng HDMI Input ở HDTV, còn đầu kia cắm vào cổng HDMI trên đầu ghi/đầu đọc. Còn nếu như bạn lại có thêm một bộ AV Receiver, thì bạn chỉ việc đặt bộ Reveeiver này vào giữa hệ thống kết nối. Nghĩa là đầu HDMI ra của Receiver sẽ cắm tới HDTV, còn đầu vào HDMI của Receiver sẽ cắm tới các thiết bị HD khác.</p>
<p><strong><span style="color: #333399;">HDMI ưu thế hơn so với các cáp khác như thế nào?</span></strong></p>
<p>Chuẩn HDMI cho phép truyền tải với chất lượng hình ảnh tốt hơn bất cứ chuẩn cáp thông dụng nào hiện nay. HDMI cho phép băng thông đủ cho video HD với độ phân giải 1080p và tốc độ 60 khung hình/giây, băng thông cao nhất cho định dạng video hiện nay.</p>
<p>Mặc dù tính về hình ảnh, chuẩn DVI trên máy tính thực ra cũng có khả năng truyền tải với chất lượng tương đương, nhưng vấn đề là chuẩn này lại không thông dụng trên HDTV cũng như các thiết bị phát HD hiện nay.</p>
<p>Còn chuẩn Component thì mặc dù rất thông dụng trên các TV cũng như đầu phát HD và các thiết bị khác, nhưng chất lượng hình ảnh lại không bằng được HDMI, dù rằng việc tìm ra sự khác biệt này cũng không phải dễ dàng gì.</p>
<p>So với các cổng video quen thuộc đời trước như S-video, cổng composit (giắc video màu vàng) hay cổng RF thì HDMI là một bước cải thiện vượt bậc. Tuy nhiên, chất lượng video thực chất lại nằm ở nguồn phát. Vì thế mà nếu nguồn phát chất lượng thấp thì có truyền bằng cổng HDMI cũng sẽ cho ra hình ảnh tệ hơn là một nguồn phát video chất lượng cao truyền qua cổng S-video.</p>
<p>Đối với âm thanh, chuẩn HDMI cũng thuộc hàng top khi nó hỗ trợ tới 8 kênh tiếng 24-bit ở 192 Hz, thừa đủ cho những hệ thống âm thanh chất lượng cao nhất như Dolby TrueHD và DTS-HD Master Audio. Để có thể có được một chất lượng âm thanh tương tự như vậy, bạn cần chạy tới 8 cáp âm thanh analog đa kênh. Còn các cổng âm thanh số như cổng quang hay đồng trục, số kênh có thể tương đương, nhưng độ phân giải tín hiệu sẽ bị giới hạn ở mức thấp hơn.</p>
<p align="center"><span style="color: #3366ff;"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/hdmi2.jpg" alt="" /></span></p>
<p align="center"><span style="color: #3366ff;">Cổng HDMI trên HDTV. <em>Ảnh: HDTVtest.</em></span></p>
<p align="justify"><strong><span style="color: #333399;">Cổng HDMI được dùng trên các thiết bị nào?</span></strong></p>
<p>Cũng tương tự như cổng USB, cổng HDMI cũng có dạng miniHDMI bé hơn thường thấy trên các máy quay phim HD. Chất lượng trên cổng này hoàn toàn tương đương như với cổng HDMI thông thường, dù kích thước có bé hơn. Để kết nối, bạn phải dùng tới cáp mà một đầu là cổng thường, mọt đầu là cổng mini, hoặc dùng một cáp thường và thêm một adapter chuyển đổi từ HDMI sang miniHDMI.</p>
<p>Mặc dù chuẩn DVI đã tạo dựng được chỗ đứng trên các dòng máy tính để bàn, nhưng hiện giờ các thế hệ máy để bàn mới cũng như card màn hình mới đang dần chuyển sang xu hướng tích hợp thêm cổng HDMI. Nhưng dù có như vậy, chuẩn này quả thật vẫn còn phải đi một quãng đường dài vì không như tình trạng không đối thủ ở hệ thống rạp hát tại gia. Trong trường giải trí máy tính, chuẩn HDMI phải đối mặt với những đối thủ không kém phần ưu việt, như DisplayPort có thể ra mắt trong năm nay và UDI sẽ sớm có mặt trên thị trường.</p>
<p><strong><span style="color: #333399;">Cáp đắt tiền không xứng với giá của nó<br />
</span></strong><br />
Bạn có thể vào bất cứ cửa hàng điện tử nào và mua một sợi cáp HDMI. Đừng bị người bán hàng phỉnh nịnh để bỏ thêm tiền để mua những cáp HDMI được quảng cáo là chất lượng cao hơn, tốc độ nhanh hơn đi kèm với giá tiền cắt cổ. Nói chung, chỉ cần một sợi với giá dưới 35 USD với độ dài 1 mét là đủ. Sự khác nhau giữa một sợi cáp HDMI giá 35 USD với một sợi giá tới 140 USD không mang lại ý nghĩa gì cả, bởi thông tin số được truyền tải trên chúng hoàn toàn như nhau, không sợi nào có thể khiến cho hình ảnh trở nên đẹp hơn cả.</p>
<p>Rất nhiều loại cáp của đủ các hãng nổi tiếng đều đã được các chuyên gia âm thanh sử dụng, như Belkin, Accell, Monoprice, Monster hay SimplayHD nhưng không thấy được sự khác biệt đáng kể nào về chất lượng. Chỉ với một sợi cáp bình thường và một kết nối chắc chắn, thử nghiệm cho thấy không hề có hiện tượng mất hình hay nháy hình. Chỉ đơn giản là hình ảnh và âm thanh vẫn giữ chất lượng cao, chắc và đáng tin cậy.</p>
<p>Biên tập viên trên trang công nghệ Cnet đảm bảo rằng các cáp HDMI rẻ tiền vẫn đem lại chất lượng hình ảnh xuất sắc. Phòng lab chuyên đánh giá các bộ rạp hát tại gia của họ chỉ sử dụng những sợi cáp bình thường, như cáp Monoprice hay thậm chí là những hãng bình dân khác với tần suất rút ra cắm vào liên tục mỗi khi thử nghiệm bộ mới và với chiều dài đa dạng, từ 1 tới 5 mét hay thậm chí tới 7 mét mà âm thanh hình ảnh đều không có vấn đề gì về suy hao chất lượng. Với những sợi cáp bình dân mà chất lượng của nó còn được các chuyên gia đánh giá âm thanh hình ảnh chấp nhận được thì không có lý gì lại không đủ phục vụ cho nhu cầu nghe nhìn đơn giản tại gia.</p>
<p align="center"><span style="color: #3366ff;"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/hdmi3.jpg" alt="" /></span></p>
<p align="center"><span style="color: #3366ff;">HDMI chuẩn 1.3. <em>Ảnh: Silversonic.</em></span></p>
<p align="justify"><strong><span style="color: #333399;">Các phiên bản HDMI</span></strong></p>
<p>Một trong những thông số gây hoang mang nhất của chuẩn HDMI chính là các phiên bản khác nhau của nó. Trong khi phần lớn các thiết bị đời mới hỗ trợ chuẩn 1.3 thì ở một số thiết bị đời cũ chỉ hỗ trợ chuẩn 1.2 cũ hơn. Đã có quá nhiều thông tin về chuẩn HDMI 1.3 và những lợi thế băng thông mà nó mang lại, và thực tế quả cũng vậy. Chuẩn mới hỗ trợ &#8220;Deep Color&#8221;, một tính năng cho phép hỗ trợ một gam màu rộng lớn hơn. Tuy nhiên, tính năng này mới chỉ dừng ở một số máy quay HD chứ chưa được sử dụng rộng rãi trên các thiết bị HD khác, ngay cả đầu Blu-ray. Chuẩn HDMI 1.3 cũng cho phép tính năng tự động chỉnh khớp lời thoại dù rằng các tính năng khớp lời thoại vốn có trên chuẩn cũ cũng không có vấn đề gì.</p>
<p>Nâng cấp quan trọng của chuẩn 1.3 là nó cho phép truyền thẳng âm thanh chất lượng cao như Dolby TrueHD và DTS-HD Master Audio dưới dạng bitstream. Cũng với soundtrack chất lượng cao này, các phiên bản HDMI chỉ có thể truyền tải nếu như nó được chuyển sang định dạng PCM trước. Tuy nhiên, tính năng nay có vẻ như sẽ ít vai trò dần bởi lẽ đầu Blu-ray thế hệ mới tích hợp giải mã cho tất cả sountrack chất lượng cao sẽ sớm có mặt trên thị trường.</p>
<p>Một điểm đáng lưu ý đối với chuẩn HDMI 1.3 là không đảm bảo hỗ trợ bất kỳ tính năng nào nói trên, từ Deep Color, tự động khớp lời thoại tới hỗ trợ truyền âm thanh bitstream. Tất cả đều là những tính năng mà nhà sản xuất có thể lựa chọn để tích hợp. Nói cách khác, người mua nên tập trung vào việc thiết bị HD có những tính năng nào thay vì chú trọng việc nó hỗ trợ phiên bản HDMI nào. Thêm vào đó, theo lời người phát ngôn của chuẩn HDMI, 98% cáp HDMI tương thích tốt với chuẩn HDMI 1.3. Vì thế, không lý do gì lại phải bỏ thêm tiền mua một sợi cáp chuyên dụng hỗ trợ phiên bản 1.3.</p>
<p>Tháng 5 vừa rồi chuẩn HDMI 1.4 đã được công bố. Chuẩn này thêm vào nhiều tính năng mới hữu ích như HDMI Ethernet cho phép kết nối mạng và Audio Return Channels cho phép truyền âm thanh hai chiều. Về mặt chất lượng hình ảnh, HDMI 1.4 đã sẵn sàng cho 3-D và có thể hỗ trợ tới độ phân giải 4.096 x 2.160 pixel với độ sâu màu cải thiện hơn. Cuối cùng là một cổng kết nối microHDMI hỗ trợ cho kết nối tới điện thoại di động hay máy ảnh&#8230; Các thiết bị hỗ trợ chuẩn này dự kiến sẽ ra mắt thị trường vào năm sau.</p>
<p><strong><span style="color: #333399;">Cáp HDMI chạy được bao xa?</span></strong></p>
<p>Cũng như các loại cáp khác, tín hiệu trên cáp HDMI cũng sẽ bị suy hao theo chiều dài chạy cáp. Mặc dù nhóm phát triển HDMI không công bố con số chính thức về độ dài tối đa cho phép của cáp này, nhưng họ gián tiếp đề cập đến việc ngoài 10 mét chất lượng có thể bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, qua thực tế sử dụng, những sợi cáp HDMI Accell dài tới 21 mét tại Phòng thử nghiệm của Cnet hay những sợi cáp HDMI Monoprice dài tới 25 mét cũng được người tiêu dùng đánh giá cao. Thực chất, chất lượng cáp không phải là yếu tố duy nhất. Bản thân cổng xuất HDMI trên thiết bị và cổng HDMI input trên HDTV cũng có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng tín hiệu truyền trên đường dây. Vì thế tốt nhất người dùng tự đánh giá về tương quan chất lượng/độ dài của cáp trong hệ thống của mình.</p>
<p align="center"><span style="color: #3366ff;"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/hdmi4.jpg" alt="" /></span></p>
<p align="center"><span style="color: #3366ff;">HDMI switch. <em>Ảnh: Futurelooks.</em></span></p>
<p align="justify"><strong><span style="color: #333399;">HDMI switch</span></strong></p>
<p>Với ngày càng nhiều thiết bị hỗ trợ cổng HDMI trong khi số lượng cổng HDMI Input của HDTV thì có hạn, người dùng có thể tính đến việc dùng HDMI Switch mà không phải mua thêm màn HDTV. Với cấu hình đơn giản, tất cả việc cần làm chỉ là kết nối cáp từ thiết bị tới switch và kết nối đầu ra của switch tới HDTV. Hầu hết các bộ HDMI Switch đều đi kèm với một điều khiển từ xa hồng ngoại, vì thế người dùng có thể chuyển đổi qua lại giữa các cổng một cách dễ dàng.</p>
<p><strong><span style="color: #333399;">HDCP là gì</span></strong></p>
<p>HDCP là viết tắt của công nghệ bảo mật nội dung số băng thông cao (High-bandwidth Digital Content Protection), cho phép cơ chế bảo vệ bản quyền trên các thiết bị sử dụng HDMI. Khi hai thiết bị được kết nối qua cổng HDMI, HDCP yêu cầu các thết bị này phải &#8220;bắt tay&#8221; nhau liên tục hay phải xác nhận rằng đây là hai thiết bị hợp pháp. Bảo vệ bản quyền vốn rất được các công ty đa phương tiện như các phòng chiếu phim chú trọng, nhằm tránh việc sao chép trái phép phim ảnh và các chương trình TV.</p>
<p>Nếu đọc xong mà bạn vẫn còn mơ hồ về chuẩn này, thì ít nhất cũng chỉ cần nhớ thông tin vô dùng đơn giản. Đó là: &#8220;Không có lý do gì để cố bỏ tiền ra mua những sợi cáp HDMI đắt đỏ nếu như bạn có thể mua được loại rẻ hơn&#8221;.</p>
<p align="justify"><strong>Theo Quantrimang</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/08/tim-hi%e1%bb%83u-v%e1%bb%81-hdmi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>10 mẹo tăng tốc cho máy tính cũ</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/08/10-m%e1%ba%b9o-tang-t%e1%bb%91c-cho-may-tinh-cu/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/08/10-m%e1%ba%b9o-tang-t%e1%bb%91c-cho-may-tinh-cu/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 08 Aug 2009 08:31:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hardware]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1630</guid>
		<description><![CDATA[Nếu máy tính của bạn chạy chậm, hãy tham khảo 10 mẹo được giới thiệu trong bài để tăng tốc cho bất cứ máy tính cũ nào.

Với một máy tính đã sử dụng hơn một năm chắc chắn bạn sẽ cảm nhận được nó chậm hơn trước rất nhiều. Có nhiều lý do gây ra [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><strong>Nếu máy tính của bạn chạy chậm, hãy tham khảo 10 mẹo được giới thiệu trong bài để tăng tốc cho bất cứ máy tính cũ nào.<span id="more-1630"></span><br />
</strong></div>
<p align="justify">Với một máy tính đã sử dụng hơn một năm chắc chắn bạn sẽ cảm nhận được nó chậm hơn trước rất nhiều. Có nhiều lý do gây ra vấn đề này, nguyên nhân có thể xuất phát từ các chương trình không cần thiết gây tiêu tốn bộ nhớ hệ thống đến các loại spyware và virus hiển ác. Và với lý do nào đi nữa thì kết cục cuối cùng cũng đều giống nhau ở chỗ là làm cho máy tính của bạn chậm ì một cách đến khó chịu.</p>
<p align="justify">Tuy nhiên trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu một số mẹo không mang tính kỹ thuật chuyên sâu mà bạn có thể thực hiện để tăng tốc cho một máy tính bị chậm như vậy. Các công việc liệt kê trong bài được trình bày theo thứ tự từ dễ nhất đến khó nhất.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>1. Khởi động lại thường xuyên</strong></span></p>
<p align="justify">Đây là cách đơn giản nhất để tăng tốc cho một máy tính khi nó bắt đầu chạy chậm dần. Đôi khi việc bạn mở và đóng nhiều chương trình trên máy tính có thể làm cho một phần bộ nhớ hệ thống không được giải phóng để sử dụng cho các nhiệm vụ sau. Khi càng có ít bộ nhớ thì hệ thống của bạn chắc chắn sẽ hoạt động càng chậm, đây là một sự thật hiển nhiên.</p>
<p align="justify">Chỉ có một cách để giải phóng phần bộ nhớ hệ thống bị mất theo kiểu này là tắt và khởi động lại máy tính – đây là thao tác mà bạn nên thực hiện ít nhất một lần trong ngày. Cứ để máy tính của bạn chạy liên tục cả tuần xem, bạn sẽ nhận ra nó chậm đi như thế nào!</p>
<p align="justify">Mẹo này thực sự rất hữu dụng nếu bạn đang chạy hệ điều hành Windows XP, hệ điều hành được biết đến với kiểu mất mát bộ nhớ theo cách này. Chỉ đến Windows Vista các lỗi kiểu này mới được khắc phục dần, tuy nhiên việc khởi động lại máy tính theo một chu kỳ nào đó vẫn là một việc làm hữu ích.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>2. Remove Spyware và Virus</strong></span></p>
<p align="justify">Khi máy tính tự nhiên chạy chậm một cách không bình thường, thứ đầu tiên bạn cần phải tìm kiếm là chương trình virus hoặc spyware – đặc biệt nếu có thanh thiếu niên trong nhà. Nguyên nhân là vì các spyware và virus có thể tấn công tất cả các khía cạnh trên hệ thống của bạn, làm chậm hệ thống nhưng không đông cứng hoàn toàn.</p>
<p align="justify">Một trong những địa điểm dễ bị tiêm nhiễm đó là các site chia sẻ file, các thanh thiếu niên thường vào các site này và download về file nhạc, phim và vô tình kéo theo cả malware vào máy của mình. Tuy nhiên không phải site download nào cũng vậy, có những site bảo vệ người dùng một cách an toàn như iTunes, Amazon,…, chỉ các site nguy hiểm mới cho phép bạn download các file không hợp lệ.</p>
<p align="justify"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/spyware-clean.jpg" alt="" hspace="5" align="right" />Đối với hai kiểu malware khác nhau này, virus có sẽ là nguy hiểm nhất, tuy nhiên spyware lại mang tính phổ biến nhất. Điều này là vì bạn dễ bị tiêm nhiễm spyware hơn virus. Tuy spyware không gây ra các hỏng hóc về kỹ thuật cho hệ thống của bạn giống như virus, nhưng nó có thể và thường ăn bớt tài nguyên hệ thống và làm chậm máy tính của bạn.</p>
<p align="justify">Để làm sạch hệ thống tránh các tấn công đến từ virus, bạn cần chạy chương trình chống virus. Tương tự bạn cũng cần một chương trình anti-spyware để gạt bỏ spyware ra khỏi hệ thống của mình.</p>
<p align="justify">Cần phải nhớ rằng phòng bệnh hơn chữa bệnh, điều đó có nghĩa rằng bạn cần tránh truy cập vào các site chia sẻ độc hại, hay không nên mở file đính kèm trong các email không xác định hoặc thực hiện một số hành động bảo vệ nói chung cho máy tính.</p>
<p align="justify">Tránh được malware, bạn sẽ duy trì được tốc độ của máy tính.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>3. Remove các chương trình tự động tải</strong></span></p>
<p align="justify">Càng chạy nhiều chương trình (hay mở nhiều tài liệu) thì máy tính của bạn chạy càng chậm. Lý giải cho điều đó là gì tất cả các chương trình hay tài liệu (và các chỉ lệnh của hệ điều hành khác) đều được lưu trong bộ nhớ hệ thống.</p>
<p align="justify">Quá nhiều chương trình trong một bộ nhớ không đủ sức chứa sẽ làm giảm hiệu suất của hệ thống.</p>
<p align="justify">Với lý do này, bạn cần loại trừ bất cứ chương trình nào load tự động mà không cần sử dụng thực sự đến nó. Biện pháp này sẽ giải phóng được không gian nhớ cho hệ thống để phục vụ các chương trình mà bạn đang chạy.</p>
<p align="justify">Vấn đề ở đây là có rất nhiều chương trình đang chạy trên máy tính của bạn, và bạn không biết được những chương trình nào hiện mình có đang sử dụng hay không cũng như không biết cách kiểm soát chúng. Ở đây phải lý giải để các bạn hiểu thêm về các chương trình tự động load mà không có sự cho phép của bạn, là các chương trình được khởi chạy bất cứ khi nào bạn bật máy tính và khởi chạy Windows. Khi được load, các chương trình này sẽ nằm trong bộ nhớ hệ thống – tiêu tốn một phần không gian nhớ quý giá và góp phần làm chậm hiệu suất của hệ thống.</p>
<p align="justify">Hầu hết các chương trình và quá trình khởi động này đều cần thiết ở một thời điểm nào đó, giống như một sự đề phòng mà bạn đã quyết định sử dụng chúng. Trên bất cứ hệ thống nào bạn có thể tìm ra các tiện ích dưới tất cả các hình thái hoặc kích thước được load trước vào bộ nhớ hệ thống – các tiện ích kiểm tra nâng cấp cho chương trình, giúp phát hiện và download ảnh từ các ổ đĩa và thiết bị đính kèm, nạp trước một số lượng bit cho các chương trình lớn hơn (giúp những chương trình này khởi chạy nhanh hơn nếu bạn muốn sử dụng chúng), chạy sidebar, toolbar và widget,… Bên cạnh đó bạn cũng có thể thấy các chương trình thư tín tức thời được nạp trước vào bộ nhớ, cùng với đó là các tiện ích để quản lý nhiều hoạt động khác nhau của hệ thống.</p>
<p align="justify">Liệu bạn có cần tất cả các chương trình và tiện ích này cần phải chạy trong chế độ background mỗi khi khởi động máy tính của mình? Rõ ràng là không. Càng nhiều chương trình và tiện ích như kể trên này thì lượng bộ nhớ có sẵn để cung cấp cho việc các chương trình cần thiết khác của bạn càng ít. Đó là một sự thật.</p>
<p align="justify">Đây là một trường hợp sử dụng tài nguyên hệ thống không hiệu quả và là một trong những nguyên nhân chính gây ra hiện tượng giảm hiệu suất của máy tính.</p>
<p align="justify">Do có nhiều địa điểm trên máy tính là nơi khởi chạy các chương trình này, do đó cũng có nhiều cách làm cho các chương trình tự động load này không được tự động load. Phương pháp hiệu quả nhất là sử dụng tiện ích <em>System Configuration</em> của Windows, hay <em>Msconfig</em>. Tiện ích này sẽ dẫn bạn qua một loạt các bước để vô hiệu hóa các thành phần của hệ thống chạy khi khởi động cho tới khi bạn có thể cách ly được thành phần gây ra vấn đề của mình; nó cũng có thể được sử dụng để stop việc load các chương trình trong quá trình khởi động hệ thống.</p>
<p align="center"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/msconfig_startup.jpg" alt="" /></p>
<p align="justify">Để mở tiện ích System Configuration, chọn <strong>Start</strong>, <strong>Accessories</strong>, <strong>Run</strong>; khi hộp thoại Run xuất hiện, nhập vào <strong>msconfig</strong> và kích <strong>OK</strong>. Khi cửa sổ tiện ích System Configuration xuất hiện, hãy chọn tab <strong>Startup</strong>, đây là tab liệt kê tất cả các chương trình và quá trình load khi Windows khởi chạy, cùng với đó là vị trí của chúng (khóa Registry hoặc thư mục Startup).</p>
<p align="justify">Để ngăn chặn không cho các chương trình hoặc quá trình nào đó load trong chế độ startup, bạn chỉ cần hủy chọn mục đó trong danh sách này. Khi kích <strong>OK</strong>, những thay đổi của bạn sẽ được áp dụng sau khi khởi động lại Windows.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>4. Xóa các file cũ khỏi ổ đĩa</strong></span></p>
<p align="justify"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/DiskCleanup.jpg" alt="" hspace="5" align="right" />Không chỉ việc thiếu bộ nhớ dẫn đến hiện tượng làm chậm máy tính. Nếu không có đủ không gian trống trên ổ đĩa cứng, máy tính của bạn cũng có thể bị chậm. Điều này là do máy tính của của bạn sẽ sử dụng phần không gian trống trên đĩa cứng như một bộ nhớ ảo để hỗ trợ thêm cho bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên của hệ thống, do đó sẽ không đủ bộ nhớ ảo cho các chương trình của bạn để có thể phát huy hết hiệu suất.</p>
<p align="justify">Với lý do này, bạn nên xóa các file không cần thiết một cách định kỳ để giải phóng không gian đĩa cứng. Có thể thực hiện thao tác này một cách tự động với tiện ích Disk Cleanup của Windows; chỉ cần kích vào menu <strong>Start</strong> và chọn <strong>All Programs, Accessories, System Tools, Disk Cleanup</strong>.</p>
<p align="justify">Xóa được càng nhiều file, không gian đĩa cứng của bạn càng trống – khi đó máy tính của bạn sẽ hoạt động nhanh hơn.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>5. Hủy bỏ cài đặt các chương trình không được sử dụng</strong></span></p>
<p align="justify">Cùng với những biện pháp trên, việc remove các chương trình không được sử dụng ra khỏi hệ thống của bạn cũng giải phóng được nhiều không gian đĩa cứng. Bạn có thể sử dụng tiện ích<strong>Add/Remove Programs</strong> của Windows (tìm trong <strong>Control Panel</strong>) để hủy cài đặt các chương trình cũ.</p>
<p align="justify">Tiện ích này sẽ remove tất cả các dấu vết của một chương trình cũ – thậm chí còn remove nó khỏi menu Start của Windows. Nếu bạn không sử dụng một chương trình nào đó trong vòng 6 tháng hoặc hơn thế, thì đó chính là ứng viên cho việc thực hiện hủy bỏ cài đặt của bạn.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>6. Thực hiện dồn ổ cứng</strong></span></p>
<p align="justify">Đây là một cách khác mà ổ đĩa cứng của bạn có thể làm chậm hệ thống – bằng việc tạo nhiều mảnh vụn theo thời gian.</p>
<p align="justify">Việc dồn file cũng giống như việc lấy những bộ phận từ trò chơi lắp hình và sắp xếp chúng vào các hộp khác nhau, cùng với các bộ phận từ trò chơi khác; càng nhiều bộ phận bị phân tán thì thời gian để thực hiện công việc này sẽ lâu hơn. Bạn hoàn thành nhiệm vụ của mình cũng như khắc phục được vấn đề khi sắp xếp tất cả các bộ phận của trò chơi vào đúng các hộp.</p>
<p align="justify">Một đĩa cứng bị phân mảnh cũng giống như một trò chơi lắp hình đang ở trạng thái lộn xộn. Những bộ phận của trò chơi chính là các phần của chương trình và các file tài liệu bị phân mảnh trên toàn bộ đĩa cứng. Nếu các thành phần của chương trình càng bị phân tán rộng thì thời gian để đọc chúng từ ổ đĩa cứng sẽ diễn ra lâu hơn.</p>
<p align="justify">Tuy nhiên, ổ đĩa cứng của bạn có thể bị phân mảnh mỗi khi bạn chạy một chương trình hoặc mở hay đóng một file nào đó, điều đó sẽ làm chậm hệ thống của bạn theo thời gian. Với lý do đó, bạn nên dồn ổ tối thiểu mỗi tháng một lần.</p>
<p align="center"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/Disk-Defragmenter.jpg" alt="" /></p>
<p align="justify">Bạn có thể sử dụng tiện ích Disk Defragmenter của Windows để khắc phục vấn đề này, chỉ cần kích vào menu <strong>Start</strong> và chọn <strong>Programs</strong>, <strong>Accessories</strong>, <strong>System Tools</strong>, <strong>Disk Defragmenter</strong>. Cách khác là bạn có thể sử dụng các tiện ích dồn ổ của các nhóm thứ ba chẳng hạn như <strong><a href="http://www.download.com.vn/data+file/data+testing+data+check/6620_diskeeper_2008.aspx" target="_blank">Diskeeper</a></strong>, đây là một chương trình được nhiều người dùng đánh giá mạnh hơn công cụ có trong Windows.</p>
<p align="justify">Một ổ cứng được dồn ổ sẽ chạy nhanh hơn nhiều so với ổ cứng bị phân mảnh.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>7. Bổ sung thêm bộ nhớ bằng ReadyBoost</strong></span></p>
<p align="justify">Nhiều hiện tượng máy tính chậm có thể là nguyên nhân của sự thiếu bộ nhớ hệ thống. Thông thường bạn vẫn giải quyết vấn đề này bằng cách bổ sung thêm bộ nhớ vật lý, vấn đề này có thể làm khó những người không thành thạo về kỹ thuật máy tính.</p>
<p align="justify">Tuy nhiên nếu máy tính của bạn đang sử dụng hệ điều hành Windows Vista, bạn có thể bổ sung thêm bộ nhớ mà không cần phải mở <em>case</em>. Tất cả những gì bạn cần thực hiện là cắm thêm một ổ USB rẻ tiền hoặc thẻ nhớ flash.</p>
<p align="justify"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/ReadyBoost.jpg" alt="" hspace="5" align="right" />Hệ điều hành Windows Vista có một công nghệ nâng bộ nhớ với tên gọi <strong>ReadyBoost</strong>. Với<strong>ReadyBoost</strong>, bạn có thể sử dụng một thiết bị USB để tăng tạm thời lượng RAM trên máy tính cá nhân của mình. Cắm một trong các thiết bị này vào khe cắm thích hợp trên máy tính, bộ nhớ hệ thống của bạn sẽ tự động tăng lên – và hiệu suất của hệ thống cũng vì thế mà tự động được cải thiện.</p>
<p align="justify">Khi cắm một thiết bị nhớ ngoài vào máy tính Vista, bạn sẽ được nhắc nhở về cách bạn muốn sử dụng thiết bị đó như thế nào. Trong trường hợp này hãy chọn <strong>Speed Up My System</strong>, khi đó máy tính của bạn sẽ tự động truy cập vào không gian nhớ có sẵn trên thiết bị.</p>
<p align="justify"><strong><em><span style="text-decoration: underline;">Lưu ý:</span></em></strong> <em>Công nghệ ReadyBoost chỉ có trong Windows Vista và Windows 7; không có công nghệ tương tự như vậy trong Windows XP và các hệ điều hành cũ hơn.</em></p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>8. Làm sạch trình duyệt web của bạn</strong></span></p>
<p align="justify">Đôi khi nguyên nhân khiến máy của bạn bị chậm lại đến từ trình duyệt web. Trong trường hợp này, cách nhanh nhất để tăng tốc cho việc duyệt web là nâng cấp kết nối băng thông rộng hơn vì các kết nối băng thông rộng có thể chậm đi theo thời gian.</p>
<p align="justify">Điều này là vì trình duyệt web của bạn sẽ lưu các copy tạm thời của mỗi một trang web mà bạn ghé thăm. Tính năng này được gọi là <em>cache</em>, và nó sẽ ngốn một phần không gian trên đĩa cứng của bạn. Tuy <em>cache</em> được thiết kế để tăng tốc cho việc duyệt web (trình duyệt của bạn chỉ cần truy cập vào cache nội bộ khi bạn muốn thăm lại một trang nào gần đây), nhưng khi<em>cache</em> quá lớn có thể làm chậm trình duyệt của bạn đáng kể.</p>
<p align="justify">Bạn sẽ thấy, theo thời gian, trình duyệt của bạn sẽ lưu ngày càng nhiều trang vào file cache – và các trang này không được xóa tự động. Chính vì vậy, khi bạn truy cập càng nhiều trang thì cache trên ổ đĩa cứng của bạn càng đầy hơn.</p>
<p align="justify">Cache hỗ trợ cho trình duyệt web còn trình duyệt sẽ phân loại trong toàn bộ cache mỗi khi bạn load một trang nào đó và tìm kiếm đúng một phiên bản của trang đã được lưu cho bạn. Chính vì vậy mà cache càng lớn thì càng mất nhiều thời gian cho việc tham chiếu.</p>
<p align="justify"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/DeleteBrowsing.jpg" alt="" hspace="5" align="left" />Giải pháp đơn giản cho sự chậm chạp ở đây chính là xóa <em>cache</em>. Về thực chất, những gì bạn thực hiện là xóa file <em>cache</em>; thao tác này sẽ làm trống rỗng <em>cache</em>, giải phóng phần không gian đĩa trống có giá trị và làm cho trình duyệt của bạn dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm các trang đã được <em>cache</em>trước đó.</p>
<p align="justify">May mắn là cách thức thực hiện để xóa cache khá dễ dàng. Cho ví dụ trong Internet Explorer, bạn có thể thực hiện bằng cách kích nút <strong>Tools</strong>, sau đó chọn <strong>Delete Browsing History</strong>; khi hộp thoại<strong>Delete Browsing History </strong>xuất hiện, hãy kích nút<strong>Delete Files</strong>.</p>
<p align="justify">Thao tác này sẽ xóa bỏ file cache tạm thời trên máy tính của bạn và sẽ tăng hiệu suất cho trình duyệt. Mặc dù vậy bạn cần lưu ý, cần thực hiện hành động này theo một định kỳ nào đó, không có cách nào để cấu hình Internet Explorer để trình duyệt có thể tự động xóa cache.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>9. Sử dụng một DNS Server để duyệt web</strong></span></p>
<p align="justify">Đôi khi một kết nối băng thông rộng nhanh nhất vẫn cho bạn cảm giác chậm nếu nó mất nhiều thời gian vào việc “<em>tải về</em>” mỗi một website mà bạn muốn ghé thăm. Vấn đề ở đây là do một thứ mang tên Domain Name System (DNS), sự chậm chạp trong DNS server của ISP của bạn – và hoàn toàn có thể khắc phục.</p>
<p align="justify">Mọi website trên Internet đều được <em>host</em> trên một máy chủ web (gọi là web server). Để phân biệt giữa hàng triệu máy chủ như vậy, mỗi một máy chủ phải có một địa chỉ duy nhất của nó, địa chỉ này được gọi là địa chỉ IP, ví dụ như <em>192.111.222.333</em>.</p>
<p align="justify">Rõ ràng, bạn không cần đánh địa chỉ này vào trình duyệt web khi muốn ghé thăm một website nào đó. Những gì bạn cần đánh ở đây là URL hoặc địa chỉ website; ví dụ như:<strong><em>www.websiteaddress.com</em></strong>. Còn URL chính là bí danh cho địa chỉ đích thực của site.</p>
<p align="justify">Những gì DNS server thực hiện là liên kết URL dễ nhớ của site với địa chỉ IP khó nhớ của nó. Khi bạn kết nối với Internet thông qua nhà cung cấp dịch vụ ISP, các yêu cầu URL của bạn sẽ được gửi đến máy chu DNS của ISP, nhằm tra cứu địa chỉ thực từ URL mà bạn cung cấp.</p>
<p align="justify">Đó là một quá trình đơn giản cho tới khi máy chủ DNS của ISP bắt đầu bị chậm dần. Khi xảy ra điều này, thời gian bỏ ra để tra cứu các địa chỉ IP cho URL mà bạn nhập vào sẽ mất lâu hơn – và dẫn đến làm chậm quá trình duyệt web của bạn.</p>
<p align="justify">Tuy nhiên bạn có thể khắc phục vấn đề này bằng cách hướng trực tiếp các yêu cầu URL đến một máy chủ DNS khác. Để thực hiện điều đó, một vài site như <a href="http://www.browsafe.com/" target="_blank">BrowseSafe</a> và <a href="http://www.opendns.com/" target="_blank">OpenDNS</a> có cung cấp các dịch vụ DNS thay thế, cho phép tra cứu nhanh hơn và như vậy việc duyệt web cũng diễn ra nhanh hơn. Về phía mình, các bạn cần thực hiện theo những hướng dẫn trên các site này để cấu hình lại Network Connections của Windows để sử dụng máy chủ DNS thay thế nhằm tăng tốc độ duyệt web.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>10. Làm sạch Registry</strong></span></p>
<p align="justify"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/image/082009/07/CCleaner.jpg" alt="" hspace="5" align="right" />Registry của Windows là một cơ sở dữ liệu khổng lồ nắm giữ các thông tin về cấu hình cho Windows và mọi chương trình mà bạn đã cài đặt trên ổ cứng. Theo thời gian, tất cả các chương trình khác nhau mà bạn cài đặt và các thiết lập mà bạn cần hình đã tạo ra rất nhiều entry trong Registry – điều đó đã làm cho Registry ngày một phình lên.</p>
<p align="justify">Khó khăn là ở chỗ việc xóa một chương trình ra khỏi ổ đĩa cứng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc xóa các thiết lập của chương trình đó khỏi Registry. Điều này làm cho Registry ngày càng một phình lên với rất nhiều các entry không cần thiết. Và Registry càng lớn, dưới dạng kích thước file và cả số lượng entry thì thời gian để Windows load nó khi khởi động càng lâu hơn – đó chính là nguyên nhân gây nên hiện tượng chậm hệ thống của bạn.</p>
<p align="justify">Việc khắc phục vấn đề chỉ là xóa tất cả các entry Registry không cần thiết. Mặc dù vậy nói thì dễ nhưng việc thực hiện hoàn toàn không đơn giản chút nào. Vấn đề ở đây là bạn biết các entry nào là cần thiết và entry nào không? Cộng với đó là liệu bạn có muốn thực hiện tất cả công việc đó bằnh cách sử dụng Registry Editor hay không?</p>
<p align="justify">Tuy nhiên một số hãng thứ ba đã nhận ra vấn đề này và đã đưa ra các giải pháp của riêng họ, dưới dạng các tiện ích xóa Registry. Các chương trình này sẽ tự động làm sạch phần rườm rà trong Registry của bạn, xóa các entry không hợp lệ. Phổ biến nhất trong số các bộ Registry cleaner đó là <a href="http://www.quantrimang.com.vn/download/more+software+tools/4648_ccleaner_2_08_588.aspx" target="_blank"><strong>CCleaner</strong></a>, <a href="http://www.quantrimang.com.vn/download/more+software+tools/7250_regseeker.aspx" target="_blank"><strong>RegSeeker</strong></a> và <a href="http://www.quantrimang.com.vn/download/data+file/delete+data+file/5505_wincleaner_oneclick_cleanup.aspx" target="_blank"><strong>WinCleaner</strong></a>.</p>
<p align="justify">Một chương trình xóa Registry có ảnh hưởng đến hiệu suất như thế nào? Điều này phụ thuộc vào mức độ phát hiện của nó như thế nào đối với Registry. Nếu một bộ xóa Registry chỉ tìm thấy ít các entry để xóa (vẫn còn đó các entry hợp lệ) thì sự ảnh hưởng đến hiệu suất là rất nhỏ.</p>
<p align="justify">Tuy nhiên nếu bạn có một số lượng lớn các entry vô dụng thì bộ xóa Registry sẽ có phần trăm ảnh hưởng lên hiệu suất của hệ thống cao hơn. Và như vậy bạn sẽ thấy rõ được những thay đổi của nó về tốc độ của hệ thống.</p>
<p align="justify"><strong>Theo Quantrimang</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/08/10-m%e1%ba%b9o-tang-t%e1%bb%91c-cho-may-tinh-cu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tạo một USB khởi động cho Windows XP</title>
		<link>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/08/t%e1%ba%a1o-m%e1%bb%99t-usb-kh%e1%bb%9fi-d%e1%bb%99ng-cho-windows-xp/</link>
		<comments>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/08/t%e1%ba%a1o-m%e1%bb%99t-usb-kh%e1%bb%9fi-d%e1%bb%99ng-cho-windows-xp/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 08 Aug 2009 08:30:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Hardware]]></category>
		<category><![CDATA[USB]]></category>
		<category><![CDATA[windows]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thuthuat.cpu.vn/?p=1628</guid>
		<description><![CDATA[Một USB khởi động (bootable) có thể có ích vào một lúc nào đó – tuy nhiên bạn đã bao giờ thực hiện một công việc như vậy chưa. Công việc thực hiện sẽ không đơn giản chút nào, chính vì vậy mà chúng tôi muốn dành bài viết này để giới thiệu cho các [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="justify">Một USB khởi động (<em>bootable</em>) có thể có ích vào một lúc nào đó – tuy nhiên bạn đã bao giờ thực hiện một công việc như vậy chưa. Công việc thực hiện sẽ không đơn giản chút nào, chính vì vậy mà chúng tôi muốn dành bài viết này để giới thiệu cho các bạn cách thực hiện: từ việc cấu hình BIOS cho phép cổng USB làm nhiệm vụ như một thiết bị khởi động đến việc tạo một <em>image</em> khởi động của Windows XP bằng cách sử dụng phần mềm miễn phí<em>PE Builder</em> (và một cặp file của Windows Server 2003 SP1) để định dạng và copy <em>image</em> vào UFD (<em>USB Flash Drive</em>).<span id="more-1628"></span></p>
<p align="justify">Khả năng khởi động Windows XP từ một UFD có thể mang đến cho bạn nhiều khả năng hữu ích. Cho ví dụ, bạn có thể tạo một công cụ khắc phục sự cố dễ sử dụng dành cho khởi động và phân tích những máy tính gần như đã chết. Hoặc có thể truyền tải các ứng dụng ưa thích của mình qua lại từ nhà đến văn phòng làm việc mà không cần phải cài đặt chúng trên cả hai máy tính.</p>
<p align="justify">Mặc dù vậy, trước khi có thể tạo một UFD khởi động, bạn phải vượt qua một vài chướng ngại vật.</p>
<p align="justify">Thứ đầu tiên là bạn phải có đó là một máy tính có BIOS cho phép cấu hình cổng USB làm việc như một thiết bị khởi động. Chướng ngại vật thứ hai là phải có một UFD sẽ làm việc như một thiết bị khởi động; đủ lớn và đủ nhanh để khởi động một hệ điều hành như Windows XP. Chướng ngại vật thứ ba là phải tìm ra cách để cài đặt Windows XP trên UFD.</p>
<p align="justify">Nếu sở hữu một máy tính đã được sản xuất gần đây, nhiều khả năng BIOS sẽ cho phép bạn cấu hình cổng USB làm việc như một thiết bị khởi động. Nếu bạn có một UFD chất lượng tốt, tối thiểu 512 KB và đã được sản xuất cách đây không lâu thì chắc chắn bạn sẽ qua được vật cản thứ hai. Và khi đã vượt qua được hai vật cản đầu tiên thì vật cản thứ ba rất đơn giản. Tất cả những gì bạn cần thực hiện lúc đó là download và chạy một số phần mềm miễn phí để tạo UFD khởi động.</p>
<p align="justify">Bài viết này sẽ bắt đầu bằng việc giới thiệu cách xác định xem BIOS trên máy tính của bạn có hỗ trợ việc khởi động từ USB hay không và giải thích cách cấu hình nó thể thực hiện như vậy. Sau đó là cách download và sử dụng phần mềm miễn phí để tạo một UFD khởi động chạy Windows XP Professional.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>Chướng ngại vật UFD</strong></span></p>
<p align="justify">Bạn đã thấy chúng tôi không đề cập đến cách xác định xem UFD của bạn có được cấu hình như một thiết bị khởi động hay không. Khi nói đến một UFD thực sự, bạn phải thử nó và xem điều gì sẽ xảy ra. Miễn là bạn có một máy tính với BIOS cho phép cấu hình cổng USB làm việc như một thiết bị khởi động và bạn đã cấu hình cài đặt đúng cách, khi đó mọi thứ sẽ làm việc. Nếu không thì chắc chắn UFD của bạn không thể khởi động.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>Kiểm tra BIOS</strong></span></p>
<p align="justify">Không phải mọi BIOS đều cho phép bạn cấu hình cổng USB làm việc như một thiết bị khởi động. Bên cạnh đó một số có tính năng cũng không cho phép bạn cấu hình dễ dàng. Trên một trong các hệ thống ví dụ của chúng tôi thì nó là <em>no-brainer</em>. Tuy nhiên trên một số hệ thống khác, UFD phải kết nối vào cổng USB trước khi nó cho thấy có thể cấu hình như một thiết bị khởi động.</p>
<p align="justify">Trên hệ thống test với PhoenixBIOS version 62.04, chúng tôi đã truy cập vào BIOS, vào màn hình khởi động và thấy ngay tùy chọn <strong>USB Storage Stick</strong> bên trong. Sau đó chúng tôi đã chuyển tùy chọn này lên phía trên cùng của danh sách, như thể hiện trong hình A, làm như vậy thiết bị USB sẽ là thiết bị khởi động đầu tiên trong chuỗi khởi động. (BIOS này cũng cho phép người dùng tôi nhấn <strong>F10</strong> trong quá trình khởi động và chọn bất kỳ một thiết bị khởi động có sẵn nào, chính vì vậy sẽ không thực sự cần thiết để chuyển mục <strong>USB Storage Stick</strong> lên trên cùng như hướng dẫn).</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb1.jpg" border="0" alt="" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình A: Các thiết lập trên màn hình khởi động của PhoenixBIOS cho phép bạn chọn thiết bị khởi động</span></div>
<p align="justify">Trên hệ thống test với AMI BIOS version 2.59, chúng tôi đã truy cập vào BIOS, vào màn hình<strong>Boot Sequence </strong>tuy nhiên lại không thấy tùy chọn <strong>USB boot</strong> ở đây (hình B). Sau đó chúng tôi đã kiểm tra cả màn hình <strong>Hard Disk Drives</strong> và cũng vẫn không tìm ra tùy chọn <strong>USB boot</strong>, xem thể hiện trong hình C.</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb2.jpg" border="0" alt="" width="500" height="375" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình B: Tùy chọn USB boot không xuất hiện trong màn hình Boot Sequence</span></div>
<p align="center"><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb3.jpg" border="0" alt="" width="500" height="375" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình C: Màn hình Hard Disk Drives chỉ hiển thị SATA hard disk.</span></p>
<p align="justify">Sau đó chúng tôi đã cắm một UFD vào cổng USB, khởi động hệ thống và truy cập vào BIOS. Khi kiểm tra màn hình <strong>Hard Disk Drives</strong>, UFD đã xuất hiện trong danh sách và có thể chọn nó làm thiết bị khởi động đầu tiên (hình D).</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb4.jpg" border="0" alt="" width="500" height="375" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình D: Khi UFD được cắm vào cổng USB, bạn có thể cấu hình UFD là một thiết bị khởi động</span></div>
<p align="justify">Khi trở lại màn hình <strong>Boot Sequence</strong>, UFD đã được thiết lập là thiết bị khởi động đầu tiên (hình E).</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb5.jpg" border="0" alt="" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình E: Màn hình Boot Sequence chỉ thị UFD được thiết lập là thiết bị khởi động đầu tiên</span></div>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>Chướng ngại vật về phần mềm</strong></span></p>
<p align="justify">Để cài đặt Windows XP trên một UFD, bạn phải có một chương trình mang tên <em>PE Builder</em> của Bart Lagerweij. Bên cạnh đó bạn cũng cần có hai file từ Windows Server 2003 Service Pack 1. Và rõ ràng cần phải có một CD Windows XP Professional.</p>
<p align="justify">Bạn có thể download <em>PE Builder</em> <a href="http://www.nu2.nu/pebuilder" target="_blank">tại đây</a>. Và có thể download Windows Server 2003 SP1 <a href="http://www.microsoft.com/downloads/details.aspx?FamilyId=22CFC239-337C-4D81-8354-72593B1C1F43&amp;displaylang=en" target="_blank">tại đây</a>, bảo đảm chọn đúng phiên bản 32-bit.</p>
<p align="justify">Cần phải lưu ý rằng với 329 MB, Windows Server 2003 SP1 sẽ mất khá nhiều thời gian cho việc download. Và mặc dù bạn chỉ cần hai file nhỏ nhưng chỉ có một cách để có được chúng là download toàn bộ gói phần mềm.</p>
<p align="justify"><strong><em><span style="text-decoration: underline;">Cảnh báo</span></em></strong><br />
<em>Không chạy file thực thi của Windows Server 2003 SP1! Vì thao tác này sẽ gây lỗi cho Windows XP. Chúng ta sẽ sử dụng một tập các lệnh đặc biệt để bung hai file này, sau đó xóa phần còn lại của gói.</em></p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>Chuẩn bị phần mềm</strong></span></p>
<p align="justify">Việc cài đặt PE Builder rất đơn giản. Giống như chạy một chương trình cài dặt thông thường, bạn chỉ cần thực hiện theo các chỉ dẫn trên màn hình. Để đơn giản hơn, chúng tôi đã cài đặt chương trình trong thư mục dưới một folder có tên <strong>PEBUILDER3110a</strong>.</p>
<p align="justify">Khi <em>PE Builder</em> được cài đặt, bạn cần phải tạo một thư mục trong <strong>C:\PEBUILDER3110a</strong> mang tên <strong>SRSP1</strong>, như thể hiện trong hình F. Đây là thư mục mà <em>PE Builder</em> sẽ tìm kiếm các file của Windows Server 2003 SP1 được bung.</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb6.jpg" border="0" alt="" width="500" height="226" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình F: Khi PE Builder được cài đặt, bạn cần tạo một thư mục mang tên SRSP1 trong C:\PEBUILDER3110a</span></div>
<p align="justify">Lúc này bạn có thể bắt đầu bung hai file cần thiết từ Windows Server 2003 SP1. Khi download Windows Server 2003 SP1, file thực thi sẽ có tên khá dài: <em>WindowsServer2003-KB889101-SP1-ENU.exe</em>. Để dễ đánh, bạn có thể đổi tên file thành một tên nào đó ngắn hơn, chẳng hạn như <em>WS-SP1.exe</em>.</p>
<p align="justify">Để bắt đầu, hãy mở cửa sổ nhắc lệnh và sử dụng lệnh <strong>CD</strong> để thay đổi thư mục mà trong đó bạn đã download file thực thi Windows Server 2003 SP1. Chúng tôi đã download file vào thư mục có tên <strong>Downloads</strong>. Và đây là lúc bung các file có trong SP1 bằng cách đánh lệnh:</p>
<blockquote dir="ltr">
<div>
<pre><strong><em>WS-SP1.exe -x</em></strong></pre>
</div>
</blockquote>
<p align="justify">Bạn sẽ ngay lập tức thấy một hộp thoại xuất hiện nhắc chọn thư mục để bung các file vào và có thể đánh tên của cùng thư mục, xem thể hiện trong hình G. Kích <strong>OK</strong> để thực hiện quá trình bung file. Khi thủ tục được hoàn tất, hãy để cửa sổ nhắc lệnh mở ở đó.</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb7.jpg" border="0" alt="" width="500" height="253" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình G: Bạn có thể bung các file vào cùng thư mục chứa file thực thi Windows Server 2003 SP1</span></div>
<p align="justify">Thủ tục bung sẽ tạo ra một thư mục con mang tên <strong>i386</strong> và bung tất cả các file Windows Server 2003 SP1 ở đây. Sử dụng lệnh <strong>CD</strong> để chuyển sang thư mục <strong>i386</strong> và sau đó copy file<em>setupldr.bin</em> vào thư mục <strong>SRSP1</strong> bằng lệnh sau:</p>
<blockquote dir="ltr">
<div>
<pre><strong><em>copy setupldr.bin c:\pebuilder3110a\srsp1</em></strong></pre>
</div>
</blockquote>
<p align="justify">Thực hiện expand ramdisk.sy_ file thành thư mục <strong>SRSP1</strong> bằng lệnh sau:</p>
<blockquote dir="ltr">
<div>
<pre><strong><em>expand -r ramdisk.sy_ c:\pebuilder3110a\srsp1</em></strong></pre>
</div>
</blockquote>
<p align="justify">Ba bước này được minh chứng trong hình H.</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb8.jpg" border="0" alt="" width="500" height="253" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình H: Bạn sẽ copy và expand hai file cần thiết vào thư mục SRSP1</span></div>
<p align="justify">Lúc này, việc sử dụng Windows Explorer, thẩm định các file cần thiết trong thư mục <strong>SRSP1</strong>, như thể hiện trong hình 1. Khi thực hiện xong, bạn có thể xóa tất cả các file Windows Server 2003 SP1.</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb9.jpg" border="0" alt="" width="500" height="226" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình I: Bạn nên thẩm định rằng các file setupldr.bin và ramdisk.sys đã nằm trong thư mục SRSP1</span></div>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>Chạy</strong><strong> PE</strong><strong> Builder</strong></span></p>
<p align="justify">Cho tới đây, sau khi đã bung các file cần thiết từ gói phần mềm Windows Server 2003 SP1, lúc này bạn đã sẵn sàng cho việc sử dụng <em>PE Builder</em> nhằm tạo một phiên bản Windows XP nén. Để bắt đầu, hãy cho đĩa CD Windows XP Professional vào ổ đĩa và giữ phím <strong>Shift</strong> để ngăn không cho tiện ích <em>Autostart</em> khởi chạy CD.</p>
<p align="justify">Trong trường <strong>Source</strong> trên màn hình chính <em>PE Builder</em>, hãy đánh vào ký tự ổ đĩa mà bạn đặt CD Windows XP Professional, xem thể hiện trong hình J. Bảo đảm rằng hộp <strong>Output</strong> có chứa<strong><em>BartPE</em></strong> và tùy chọn <strong>None</strong> được chọn trong panel <strong>Media Output</strong>. Sau đó kích nút <strong>Build</strong>.</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb10.jpg" border="0" alt="" width="488" height="410" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình J: Điền vào trường Source trên màn hình PE Builder chính</span></div>
<p align="justify">Khi PE Builder nén Windows XP Professional thành một <em>image</em> khởi động, bạn sẽ thấy một hộp thoại tiến trình chi tiết. Khi hoạt động hoàn tất, như trong hình K, kích nút <strong>Close</strong>.</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb11.jpg" border="0" alt="" width="500" height="371" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình K: PE Builder sẽ hiển thị một báo cáo chi tiết về tiến trình</span></div>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>Chuẩn bị UFD để khởi động Windows XP</strong></span></p>
<p align="justify">Tại đây, bạn đã sẵn sàng cho việc format và copy <em>image</em> khởi động của Windows XP Professional vào UFD với bộ cài đặt <em>BartPE USB Installer</em>. Để thực hiện điều đó, hãy mở cửa sổ nhắc lệnh và sử dụng lệnh <strong>CD</strong> để chuyển sang thư mục <strong>pebuilder3110a</strong>. Sau đó cắm UFD vào một cổng USB và ghi ra ký tự mà nó được gán. Trên hệ thống ví dụ của chúng tôi, UFD được gán là E.</p>
<p align="justify">Hãy đánh lệnh:</p>
<blockquote dir="ltr">
<div>
<pre><strong><em>pe2usb -f e:</em></strong></pre>
</div>
</blockquote>
<p align="justify">Khi đó bạn sẽ được nhắc nhở để xác nhận hoạt động này, xem thể hiện trong hình L. Trong khi hoạt động đang thực hiện, bạn sẽ thấy các bộ chỉ thị của tiến trình.</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb12.jpg" border="0" alt="" width="500" height="253" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình L: Bạn sẽ được nhắc nhở để xác nhận rằng mình muốn format UFD</span></div>
<p align="justify">Khi <em>BartPE USB Installer</em> kết thúc công việc của nó, bạn sẽ được nhắc nhở nhấn bất cứ phím nào để thoát chương trình. Lúc này bạn có thể sử dụng UFD để khởi động máy tính trong giao diện <em>BartPE</em> cho Windows XP, xem thể hiện trong hình M.</p>
<div><img src="http://www.quantrimang.com.vn/photos/Image/082009/08/bootable_usb123jpg.jpg" border="0" alt="" width="500" height="375" /><br />
<span style="color: #3366ff;">Hình M: Giao diện BartPE cung cấp cho bạn một phiên bản của Windows XP</span></div>
<p align="justify">Bạn có thể thấy một <a href="http://www.nu2.nu/pebuilder/plugins/" target="_blank">danh sách</a> các ứng dụng đặc biệt trên website của Bart, đây là những ứng dụng mà bạn có thể cài đặt trên UFD như các Plugin. Bạn có thể tìm những thứ như Firefox hoặc trình quét virus dòng lệnh của McAfee.</p>
<p align="justify"><span style="color: #0000ff;"><strong>Kết luận</strong></span></p>
<p align="justify">Việc khởi động Windows XP từ UFD trước tiên cần đến sự hỗ trợ của BIOS cho việc khởi động USB, bên cạnh đó bạn cũng cần phải có UFD có thể được định dạng như một thiết bị khởi động. Nếu bạn có gặp được đủ cả hai yếu tố này, thì tất cả những gì bạn cần là tải chương trình phần mềm miễn phí <em>PE Builder </em>và một cặp file từ Windows Server 2003 Service Pack 1, và cuối cùng là nỗ lực cố gắng trong việc cấu hình UFD để khởi động giao diện BartPE cho Windows XP</p>
<p align="justify"><strong>Theo Quantrimang</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thuthuat.cpu.vn/2009/08/08/t%e1%ba%a1o-m%e1%bb%99t-usb-kh%e1%bb%9fi-d%e1%bb%99ng-cho-windows-xp/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
